MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG
- Thứ hai - 02/12/2013 21:30
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
PHẦN THỨ NHẤT
MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG
MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG
I. QUAN NIỆM VỀ KĨ NĂNG SỐNG
“Kỹ năng” là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó. Có nhiều điều ta biết, ta nói được mà không làm được. Như vậy, luôn có một khoảng cách giữa thông tin, nhận thức và hành động. Biết thuốc lá có hại nhưng bỏ thuốc lá rất khó vì rất khó thay đổi một hành vi, biết tập thể dục là rất tốt cho sức khỏe nhưng để có hành vi tập thể dục đều đặn thì là cả vấn đề.
Trong cuộc sống, ta thường khen hành vi của một ai đó, thí dụ: em viết chữ thật đẹp, bạn thuyết trình thật hay; cậu ấy sửa máy móc giỏi lắm… Điều này có nghĩa chúng ta đang nói về những cá nhân ấy đã biết sử dụng kiến thức học được vào thực hiện thành thục các nhiệm vụ khác nhau của cuộc sống. Với kỹ năng sống cũng vậy, nếu bạn có đầy đủ các kiến thức trong cuộc sống, thế nhưng bạn lại chưa có kỹ năng cuộc sống (bao gồm rất nhiều kỹ năng) và biết sử dụng linh hoạt các kỹ năng này thì không đảm bảo được là bạn sẽ có thể đưa ra quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả hay có mối quan hệ tốt với những người khác. Vì vậy bạn cần phải có các kỹ năng đặc biệt cho cuộc sống và được gọi là “Kỹ năng sống” (KNS).
Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Kỹ năng sống đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè. Tuy nhiên một số tác giả phân biệt giữa những kỹ năng để sống còn như học chữ, học nghề, làm toán … tới bơi lội … với “kỹ năng sống” theo nghĩa mà tài liệu này đề cập. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày, mà đặc biệt tuổi trẻ rất cần để vào đời.
Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thức thách của cuộc sống hàng ngày.
Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục Kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. “Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” (UNICEF).
Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng thống nhất trên nội dung cơ bản.
- Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.
- Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì, và làm như thế nào).
Từ những quan niệm trên có thể thấy, KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
II. PHÂN LOẠI KĨ NĂNG SỐNG
Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống, tuỳ vào quan niệm về kĩ năng sống.
- Dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực sức khỏe, UNESCO đưa ra cách phân loại KNS thành 3 nhóm (UNESCO Hà Nội, 2003):
+ Kỹ năng nhận thức: Bao gồm các kỹ năng cụ thể như: Tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị...
+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc: Bao gồm động cơ, ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát và tự điều chỉnh...
+ Kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác: Bao gồm kỹ năng giao tiếp; tính quyết đoán; kỹ năng thương thuyết/từ chối; lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác v.v…
Trong tài liệu về giáo dục Kỹ năng sống hợp tác với UNICEF (Bộ Giáo dục & Đào tạo) đã giới thiệu cách phân loại khác, trong đó KNS cũng được phân thành 3 nhóm:
+ Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình gồm: Kỹ năng tự nhận thức; Lòng tự trọng; Sự kiên định; Đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng.
+ Những kỹ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm: Kỹ năng quan hệ/ tương tác liên nhân cách; sự cảm thông; đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả.
+ Các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các kỹ năng: Tư duy phê phán; Tư duy sáng tạo; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề.
(Bộ Giáo dục & đào tạo, vụ Thể chất, 1998)
Danh mục các kỹ năng sống
1. Kỹ năng tự nhận thức (self-awareness)
2. Kỹ năng nói (Oral/spoken communication skills)
3. Kỹ năng viết (Written communication skills)
4. Kỹ năng thương thuyết, thuyết phục (negotiation/persuation)
5. Làm việc theo nhóm, đội (Teamwork/collaboration skills)
6. Kỹ năng suy nghĩ tích cực (Positive thinking)
7. Giải quyết vấn đề (Problem-solving skills)
8. Kỹ năng ra quyết định (Decision making)
9. Kỹ năng thiết lập mục tiêu (Goal setting)
10. Kỹ năng kiểm soát tình cảm (Emotion management)
11. Kỹ năng phát triển lòng tự trọng (Selfesteem)
12. Tự tạo động lực (Self-motivation/initiative)
13. Tư duy phê phán (Critical thinking)
14. Đối mặt với thách thức (Risk-taking skills)
15. Tính linh hoạt, thích ứng (Flexibility/adaptability)
16. Kỹ năng lãnh đạo (Leadership skills)
17. Kỹ năng liên kết, quan hệ (Interpersonal skills)
18. Chịu áp lực công việc (Working under pressure)
19. Kỹ năng đặt câu hỏi (Questioning skills)
20. Tư duy sáng tạo (Creativity)
21. Kỹ năng gây ảnh hưởng (Influencing skills)
22. Tổ chức (Organization skills)
23. Kỹ năng thích nghi đa văn hoá (Multicultural skills)
24. Tinh thần học hỏi (Academic/learning skills)
25. Định hướng chi tiết công việc (Detail orientation)
26. Kỹ năng đào tạo, truyền thụ (Teaching/training skills)
27. Kỹ năng quản lý thời gian (Time management skills)
28. ………………………………..
1. Kỹ năng tự nhận thức (self-awareness)
2. Kỹ năng nói (Oral/spoken communication skills)
3. Kỹ năng viết (Written communication skills)
4. Kỹ năng thương thuyết, thuyết phục (negotiation/persuation)
5. Làm việc theo nhóm, đội (Teamwork/collaboration skills)
6. Kỹ năng suy nghĩ tích cực (Positive thinking)
7. Giải quyết vấn đề (Problem-solving skills)
8. Kỹ năng ra quyết định (Decision making)
9. Kỹ năng thiết lập mục tiêu (Goal setting)
10. Kỹ năng kiểm soát tình cảm (Emotion management)
11. Kỹ năng phát triển lòng tự trọng (Selfesteem)
12. Tự tạo động lực (Self-motivation/initiative)
13. Tư duy phê phán (Critical thinking)
14. Đối mặt với thách thức (Risk-taking skills)
15. Tính linh hoạt, thích ứng (Flexibility/adaptability)
16. Kỹ năng lãnh đạo (Leadership skills)
17. Kỹ năng liên kết, quan hệ (Interpersonal skills)
18. Chịu áp lực công việc (Working under pressure)
19. Kỹ năng đặt câu hỏi (Questioning skills)
20. Tư duy sáng tạo (Creativity)
21. Kỹ năng gây ảnh hưởng (Influencing skills)
22. Tổ chức (Organization skills)
23. Kỹ năng thích nghi đa văn hoá (Multicultural skills)
24. Tinh thần học hỏi (Academic/learning skills)
25. Định hướng chi tiết công việc (Detail orientation)
26. Kỹ năng đào tạo, truyền thụ (Teaching/training skills)
27. Kỹ năng quản lý thời gian (Time management skills)
28. ………………………………..
- Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin,...
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối,...
+ Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, bao gồm các KNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo...
- Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại kĩ năng sống, tuy nhiên mọi cách phân loại đều chỉ là tương đối. Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau. Ví dụ: Khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì cần các kĩ năng nhận thức, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng xác định giá trị,...thường hay được vận dụng.
III. TẤM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG.
1. KNS thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội
Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng. Ví dụ: Có những người là luật sư, công an, thẩm phán,...có hiểu biết rất rõ về luật pháp nhưng vẫn vi phạm pháp luật; nhiều người biết rõ là hút thuốc lá rất có hại cho sức khoẻ, có thể dẫn tới ung thư phổi...nhưng họ vẫn cứ hút thuốc. Lý do chủ yếu là bởi vì họ đã thiếu KNS.
Có thể nói, KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại, người thiếu KNS thương bị vấp váp, dễ bị thất bại trong học tập, giao tiếp và cuộc sống.
Không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các tệ nạn xã hội và bảo vệ quyền con người. Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các tệ nạn. Giáo dục KNS còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và quốc tế.
2. Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi vì:
- Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Nếu không có KNS, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước.
- Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động...Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường như hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đạt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS, các em sẽ dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
Vì vậy việc giáo dục KNS cho học sinh, thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh.
3. Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Phương pháp giáo dục KNS chủ yếu được áp dụng là các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi, ...cũng là phù hợp với định hướng về yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
4. Giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới.
Hiện nay đã có trên 155 nước và vùng lãnh thổ quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 quốc gia đã đưa vào chương chình chính khoá ở bậc tiểu học và trung học. Việc giáo dục KNS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức:
- KNS là một môn học riêng biệt
- KNS được tích hợp vào một vài môn học chính
- KS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình...
Từ những lí do trình bày ở trên có thể khẳng định, việc giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường hiện nay là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt.
IV. ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC KÍ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
1. Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh
- Trang bị cho học sinh kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lãnh mạnh, tích cực; loại bỏ những thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
2. Nguyên tắc giáo dục KNS cho học sinh
a. Tương tác
KNS không thể hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một số vấn đề nào đó. Nhiều KNS được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học và với những người xung quanh thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong và ngoài nhà trường.
Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn khác. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả.
b. Trải nghiệm
KNS được hình thành khi người học được trải nghiệm quá các tình huống thực tế. Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em được tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế.
Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác.
Làm sao chúng ta có thể xây dựng được cầu nối từ các thông tin đến sự thay đổi của hành vi?
Như một tác giả nói: “Giáo dục KNS không phải là nói cho học sinh biết thế nào là đúng thế nào là sai” như ta thường làm. Cũng không phải là rao giảng những lời hay ý đẹp để chúng vào tai này rồi ra tai kia. Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn.
Giáo dục KNS là giúp học sinh nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau. Quyết định phải xuất phát từ học sinh. Vì thế học phải hết sức gần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống. Nội dung phải xuất phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của học sinh. Học sinh cần có điều kiện để cọ xát các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng. Học sinh phải tham gia chủ động vì có thế học sinh mới thay đổi hành vi.
Do đó nhiều phương pháp được áp dụng để đem lại những điều kiện trên như sinh hoạt hay thảo luận theo nhóm, theo cặp, động não, sắm vai, phân tích tình huống, tranh luận, trò chơi, huy động tối đa nghe, nhìn, vận động … học sinh không chỉ thực tập thực hành trong khi học mà còn làm bài tập ở nhà, đi thực địa tham gia các phong trào, các dự án … Ví dụ học về môi trường, học sinh có thể đi du khảo, tham gia làm sạch đường phố… Học về trật tự an toàn giao thông, học sinh có thể bày những trò chơi về luật đi đường, quan sát tình hình giao thông rồi nhận xét.
c. Tiến trình
Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể khởi đầu của một chu trình mới. Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.
d. Thay đổi hành vi
Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình sao cho đúng chuẩn. Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng người là một quá trình khó khăn, không đồng thời. Có thời điểm người học quay ngược trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước. Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động kiên tục để học sinh duy trì hành vi và có thói quen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây còn lệch chuẩn, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới.
e. Môi trường giáo dục
Giáo dục KNS cần được thực hiện mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Được thực hiện trong gia đình, nhà trường và cộng đồng, người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, thầy cô hoặc bạn cùng học hay các thành viên khác trong cộng đồng.
f. Dạy bằng nhân cách của chính người thầy
Người thầy là tấm gương để trò soi vào, để trò học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Những người dạy KNS càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề… Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi mỗi người thầy cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục học trò hiệu quả hơn. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa người thầy là những vị thánh, là những siêu nhân. Người thầy cũng có thể phạm sai lầm. Nhưng thái độ của người thầy đối với sự việc sẽ giải thích kỹ năng sống của thầy như thế nào.
Nhiệm vụ, phẩm chất và những kỹ năng của người thầy
Đó có thể là một thầy, cô giáo ở trường học, một cán bộ đoàn thể/ đội nhóm/ câu lạc bộ hay một giáo viên ở nhà mở/ mái ấm hay đường phố. Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh là sự thay đổi triệt để về phương pháp và thái độ của người dạy.
Những điều Không nên:
- Diễn thuyết, nói dài, đọc cho học sinh chép.
- Không luôn đưa ra lời đáp có sẵn mà để học sinh tự tìm tòi.
- Không trả lời tay đôi với một học sinh mà đưa câu hỏi cho tập thể tự tìm lời đáp.
- Không vội vàng phê phán đúng/ sai như một quan toà nhưng kiên trì giúp học sinh tranh luận và tự kết luận.
- Không mớm ý cho học sinh phát biểu ý kiến mà người lớn trông đợi.
- Không nên bắt học sinh hoạt động không ngừng và không còn thời gian và khoảng trống để suy nghĩ cho dù bạn có khả năng tổ chức sinh hoạt tập thể, và là một hoạt náo viên giỏi.
Dĩ nhiên thỉnh thoảng bạn có thể tổng kết, kết luận nhưng với thái độ thư giãn, thoải mái, gợi mở. Điều này sẽ giúp cho học sinh dám tự tìm tòi, suy nghĩ.
Nhưng thay đổi cái nếp cũ rất khó. Dưới đây là phẩm chất của một người hướng dẫn tốt, còn được gọi là người tạo thuận lợi.
Những điều Nên đối với người dạy giáo dục KNS:
- Tin tưởng vào học viên và năng lực của họ.
- Kiên nhẫn và có kỹ năng lắng nghe tốt.
- Ý thức về bản thân và sẵn sàng học những kỹ năng mới.
- Tự tin nhưng không kiêu căng.
- Có kinh nghiệm sống và biết suy xét.
- Tôn trọng ý kiến của người khác, không áp đặt ý kiến của mình.
- Thực hành tư duy sáng tạo và khai phá.
- Có khả năng tạo bầu không khí tin tưởng lẫn nhau.
- Linh động trong việc sử dụng các kỹ thuật điều động nhóm, không bám sát vào một quy trình quy định sẵn.
- Có kiến thức về tâm lý phát triển nhóm bao gồm khả năng nắm bắt bầu không khí nhóm để kịp thời thay đổi phương pháp.
- Biết sắp xếp phòng ốc, thiết bị để tạo bầu không khí hấp dẫn.
- Biết sử dụng các phương pháp giáo dục chủ động.
Đặc biệt người dạy phải nắm vững “tính năng động của nhóm” và có những kỹ năng tác động vào nhóm để:
- Tạo bầu không khí dân chủ, thoải mái để nhóm viên đưa ra những kinh nghiệm, những nhận thức mới hay những quyết định hành động.
- Tác động kịp thời khi nhóm bế tắc, để thay đổi quy trình nhóm cho phù hợp.
- Biết tạo bầu không khí khi tranh luận sôi nổi để cọ xát các giá trị, các lập trường khác nhau để giúp học viên chấp nhận hay không chấp nhận những ý kiến khác biệt.
- Biết nắm phản hồi của nhóm khi sinh hoạt kết thúc.
- Uyển chuyển nhưng bám sát quy trình phát triển của nhóm.
3. Một số phương pháp thường sử dụng trong giáo dục kỹ năng sống.
Phần giới thiệu mục tiêu thường được thực hiện bằng phương pháp thuyết trình, trao đổi giữa giáo viên và học sinh, dưới dạng lấy phiếu nhu cầu, dưới dạng trò chơi, câu đố… Các phương pháp lựa chọn cần tạo ra sự thu hút và nảy sinh động cơ nhu cầu ở người học.
Với mục đích làm cho người học tích cực và chủ động sáng tạo tham gia vào quá trình giáo dục, phương pháp kích não (động não, bão não, khởi động…). Người học phải đưa ra ý kiến của mình về vấn đề đã có chút ít kinh nghiệm, hiểu biết, hoặc về một vấn đề mới trên cơ sở được cung cấp một số thông tin cơ bản, cần thiết. Động não là phương pháp giúp cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có ích để thu thập một danh sách các thông tin.
Bên cạnh phương pháp động não, trong bước này còn hay dùng Phương pháp nghiên cứu tình huống. Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện qua quan sát băng video hay một băng catsset mà không phải ở dạng văn bản. Tình huống sử dụng cần phản ánh tính da dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những hoàn cảnh khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.
Phương pháp trò chơi cũng là phương pháp hiệu quả ở bước này.
Phương pháp trò chơi là tổ chức cho người học chơi một trò chơi nào đó để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm.
Phương pháp trò chơi có ưu điểm sau:
- Qua trò chơi, người học có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi, bởi con người thể hiện như thế nào trong trò chơi thì phần lớn nó thể hiện như thế trong cuộc sống thực. Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở họ niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, người học sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.
- Qua trò chơi, người học được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán. Người học được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
-Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa người học với người học, giữa người dạy với người học.
Để tăng cường sự trải nghiệm và để đưa ra cách giải quyết theo kinh nghiệm và hiểu biết ở người học thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp được thực hiện trong mối quan hệ cộng đồng, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm có một vai trò hết sức quan trọng. Thông thường ở bước này thường sử dụng Phương pháp nhóm. Thực chất của phương pháp này là để người cùng tham gia trao đổi hay cùng làm về một vấn đề nào đó theo nhóm nhỏ. Thảo luận hay cùng làm một việc gì đó theo nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi người tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho người học có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến kỹ năng cần hình thành. Các nghiên cứu về phương pháp nhóm đã chứng minh rằng, nhờ hoạt động nhóm nhỏ mà:
- Ý kiến của người học sẽ giảm bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học.
- Hiểu biết trở nên sâu sắc, bền vững hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
- Nhờ không khí làm việc cởi mở nên người học trở nên thoải mái, tự tin hơn trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn.
- Trong làm việc nhóm các thành viên đều phải tham gia thực hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất theo tinh thần hợp tác chặt chẽ vì họ sẽ "Cùng chìm, hoặc cùng nổi" với nhau.
- Khi phân tích tình huống, mỗi cá nhân lại phải sử dụng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo để lựa chọn và ra quyết định chung của nhóm.
- Việc luân phiên các vai trò đảm nhiệm trong nhóm: nhóm trưởng, thư kí và các vai trò khác cũng là một yếu tố khuyến khích vai trò chủ thể, tích cực của người học.
Những điểm chủ yếu trong làm việc nhóm bao gồm:
- Các mối quan hệ của người học hình thành một mạng lưới đa dạng và phức tạp.
- Mỗi người là một thành viên của cộng đồng và là một mắt xích trong quá trình trao đổi thông tin.
- Sự trao đổi thông tin thể hiện qua cả hoạt động chính thức lẫn không chính thức.
- Cả cộng đồng/ tập thể như một đơn vị chuyển tải thông tin chứ không phải mỗi cá nhân học sinh.
Đây chính là bước học cách giải quyết vấn đề, học kỹ năng sống để giải quyết vấn đề trong tình huống đặt ra.
Sau khi đã cùng người học tìm ra mô hình mẫu của hành vi trong tình huống giả định chứa đựng kỹ năng sống cần dạy, cần tiếp tục đặt người học vào tình huống phải vận dụng kỹ năng sống vừa học để thực hành chúng. Trong bước này Phương pháp đóng vai thường hay được sử dụng.
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như:
- Người học được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho người học.
- Phát triển sự sáng tạo của người học.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng tích cực.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
Trong các bước trên, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo luôn luôn được sử dụng. Từng cá nhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nó trong số những phương án có thể trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm ra phương án phù hợp với mình khi giải quyết những tình huống khó khăn. Cho nên phương pháp giáo dục kỹ năng sống thúc đẩy phát triển kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo. Chúng vừa là nội dung của kỹ năng sống (nó là 2 kỹ năng sống thuộc về nhóm kỹ năng nhận thức), vừa là phương tiện để hình thành các kỹ năng sống khác.
Thay đổi hành vi luôn luôn là việc khó. Nếu chỉ dừng lại ở việc học và thực hành kỹ năng sống trong các tình huống giả định được đặt ra trong khi học thì chưa thể đảm bảo người học sẽ có hành vi tích cực bền vững. Do đó, quá trình học kỹ năng sống còn tiếp nối trong quá trình vận dụng các kỹ năng sống, duy trì những hành vi lành mạnh, tránh tái phạm những thói quen cũ. Vì vậy, học kỹ năng sống đòi hỏi người học luôn có ý thức vận dụng, củng cố những hành vi tích cực, đồng thời tránh lặp lại những thói quen, hành vi tiêu cực. Điều này lại càng đòi hỏi vai trò chủ thể, tích cực cao hơn quá trình học kỹ năng sống.
PHẦN THỨ HAI
HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC GIÁO DỤC
MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH ( 3 tiết)
HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC GIÁO DỤC
MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH ( 3 tiết)
A. KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC
I. MỘT SỐ YÊU CẦU:
1/Nghiên cứu giáo án về kỹ năng tự nhận thức phần A của thông tin PHẦN II: NỘI DUNG BÀI HỌC và trả lời các câu hỏi sau:
+ Kỹ năng tự nhận thức là gì?
+ Giáo dục kỹ năng tự nhận thức là giáo dục những nội dung gì?
+ Có những phương pháp nào được áp dụng trong dạy kỹ năng này
+ Có những hoạt động nào có thể lựa chọn trong dạy kỹ năng này?
2/ Xây dựng bài dạy kỹ năng tự nhận thức theo cấu trúc nội dung khác và triển khai kế hoạch theo thời gian. Có thể có bao nhiêu loại giáo án cho nội dung Kỹ năng tự nhận thức?
3/Thực hành giờ dạy (hoạt động) giáo dục kỹ năng tự nhận thức.
II. NỘI DUNG BÀI HỌC
1. Mục tiêu
Kiến thức: Người học biết tự nhận thức là một kỹ năng sống quan trọng giúp mỗi người hiểu rõ hơn về bản thân: biết mình là ai, mình có những điểm chung và những điểm riêng nào so với người khác; mình có điểm gì mạnh, điểm gì cần hoàn thiện trong phẩm chất nhân cách và năng lực, kể cả ngoại hình.
Thái độ: Người học chủ động rèn luyện kỹ năng tự nhận thức và có thái độ tự tin với những gì đã có, thấy được những gì cần cố gắng, trên cơ sở biết mình muốn gì và không thích gì để kiên định và ra quyết định phù hợp.
Về kỹ năng sống: Thực hành, trải nghiệm kỹ năng tự nhận thức, tự đánh giá, tự xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng trình bày ý kiến/suy nghĩ/ý tưởng của mình; kỹ năng hợp tác.
2. Ý nghĩa
Tự nhận thức là sự ý thức rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc của chính mình. Tự nhận thức cũng cho phép ta hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về mình cũng như thái độ và phản hồi của mình. Sự tự nhận thức là cơ sở - nền tảng - hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy. Tự nhận thức phải phát triển đầu tiên, bởi nếu không hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu người khác cảm xúc như thế nào?
Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình, cản trở mình và mình say mê cái gì, mình không thích cái gì. Sự tự nhận thức hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả. Nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn.
Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta có thể lựa chọn cách hành động hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi.
Một phần quan trọng khác của quá trình tự nhận thức là bạn cần hiểu rõ về trí óc và cơ thể mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi người cũng như phương pháp vận hành của chúng. Suy nghĩ tích cực sẽ tạo ra cảm nhận tích cực, cảm nhận tích cực sẽ tạo ra hành động tích cực và hành động tích cực sẽ tạo ra kết quả tích cực. Nếu quy trình này tiếp diễn liên tục sẽ tạo nên một thói quen tốt giúp bạn thành công.
3. Tài liệu và phương tiện
- Giấy màu, giấy khổ A4 để cá nhân vẽ, viết những thông tin giới thiệu bản thân
- Giấy khổ A0 để trình bày kết quả thảo luận nhóm
- Bút dạ, bút viết
- Băng dính, kéo
- (Những gì cần nữa, hãy liệt kê...)
4. Hướng dẫn tổ chức hoạt động
Hoạt động 1: Tìm hiểu về KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC
Kỹ năng nhận thức bản thân là gì?
Kỹ năng tự nhận thức bản thân (hiểu đơn giản chính là kỹ năng “Biết mình là ai”) là khả năng một người nhận biết đúng đắn rằng: mình là ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của mình ra sao, vị trí của mình trong mối quan hệ với người khác như thế nào; nhận biết cảm xúc của mình có ảnh hưởng như thế nào đến suy nghĩ và hành vi; hay mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào…
Tại sao chúng ta cần có kỹ năng nhận thức bản thân?
Kỹ năng nhận thức bản thân cần thiết vì:
- Nó giúp chúng ta ứng xử, hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.
- Nhận ra điểm mạnh của bản thân để phát huy.
- Nhận ra điểm yếu để khắc phục.
- Biết rõ bản thân mình muốn gì, có những năng lực gì, gặp những khó khăn – thách thức nào… để có thể điều chỉnh mục tiêu cuộc sống cho phù hợp và khả thi.
- Điều chỉnh cảm xúc và suy nghĩ của mình theo hướng tích cực.
Nội dung hạt nhân của kỹ năng này là bn phải trả lời được câu hỏi “Bạn thực sự là ai?”. Để trả lời được câu hỏi lớn này, bạn phải trả lời hệ thống các câu hỏi cụ thể sau:
- Hình ảnh bên ngoài của bạn như thế nào? Điểm khác biệt? Ưu thế là gì?
- Bạn có những điểm mạnh, điểm yếu nào về tính cách và năng lực?
- Bạn thường thành công trong những lĩnh vực nào?
- Bạn thường chưa thành công trong những hoạt động nào?
- Mục tiêu cuộc sống của bạn là gì?
- Bạn có những điều kiện thuận lợi nào giúp bạn có thể hoàn thành mục tiêu của bạn?
- Những trở ngại và thách thức có thể đối với việc đạt mục tiêu của bạn là gì?
- Bạn có sở thích gì?
- Bạn có tin là bạn có khả năng hiểu được đối tượng giao tiếp trong phần lớn các tình huống không?
- ……
- Người khác đánh giá về bạn ra sao?
- Sự đánh giá của bạn về bản thân mình và sự đánh giá của người khác về bạn có trùng hợp nhau không? Có điểm gì khác biệt?
- Bạn biết cách thức phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu như thế nào?
- Biết tìm sự hỗ trợ để phát triển cá nhân.
- Biết “soi mình” trong “tấm gương của người khác” để tự hoàn thiện mình.
- Những môn học nào bạn học khá nhất, môn nào cần cố gắng nhiều hơn?
- Những lĩnh vực tri thức nào mà bạn hay quan tâm và thấy thú vị?
- Bạn dành nhiều thời gian nhất cho hoạt động nào? Và hoạt động đó đã thực sự mang lại cho bạn cái gì trong thực tại và trong cả tương lai?
- Trong thời gian qua, thành công lớn nhất của bạn là gì?
- Chỉ ra những thất bại của bạn trong năm vừa qua.
- Chỉ ra 3 điểm mạnh và 3 điểm yếu của bản thân (có thể về cả suy nghi, cảm xúc hay hành vi) và đưa ra kết luận về bản thân mình…
* Suy tưởng
Sau thảm hoạ thiên tai, nhà bạn bị mất sạch, hay khi bạn về hưu, hay bị “mất chức”, khi bạn thật buồn, hay những lúc bạn nghèo đói… bạn sẽ còn gì? Còn ai? Ai sẽ ở bên bạn? Ai cần bạn và bạn cần cho ai? Hãy tưởng tượng bạn gặp bất hạnh, mắc sai lầm, thậm chí bị tù tội... ai sẽ thương bạn, nhớ đến bạn? Trả lời hết các câu hỏi tương tự như vậy, bạn sẽ nhận ra giá trị đích thực của bạn là gì?
* Viết về điểm mạnh và điểm yếu
· Bạn hãy viết ra 3 điểm mạnh nhất và 3 điểm yếu nhất của bạn. Liệt kê ra 3 công việc bạn làm suôn sẻ nhất từ trước đến nay và 3 việc bạn đã làm hỏng.
· Hãy kể ra 3 điểu mà mọi người thường ca ngợi về bạn cũng như 3 điều mọi người hay phàn nàn về bạn nhất.
· Nếu trong một công việc nào đó, một buổi họp hay một buổi đi chơi mà thiếu vắng bạn, mọi người có cảm thấy thiếu vắng không? Nếu có bạn thì sự việc có khác chút nào không?
Trả lời được những câu hỏi này, bạn sẽ nhận ra năng lực đích thực của bản thân.
* Suy tưởng tiếp
· Trong những lúc vui, bạn thường nghĩ về ai?
· Khi buồn bạn muốn gặp ai, nói chuyện với ai?
· Nếu bạn bị đưa ra một đảo hoang, nhưng được phép mang theo 2 người thân (sau nâng lên thành 3, 4, 5 người), danh sách đi theo của bạn là những ai, tại sao?
· Bạn được trao phần thưởng, huy chương, người bạn muốn khoe trước tiên là ai?
· Sinh nhật của bạn bạn chỉ muốn mời 3 người, thì đó sẽ là ai?
· Những ngày vui của bạn như sinh nhật, đám cưới… ai sẽ có mặt mà không cần bạn mời?
· Khi bạn ốm, phải nằm liệt giường, người bạn muốn ngồi bên cạnh bạn là ai?
Trả lời xong các câu hỏi này, bạn sẽ nhận ra tình cảm của mình với mọi người cũng như của mọi người đối với bạn.
Năng lực của bạn, trí tuệ của bạn, điều bạn trân trọng và những điều mọi người trân trọng ở bạn, những mối quan hệ thân thiết của bạn tạo nên giá trị đích thực của bạn. Những thứ khác là giá trị vay mượn mà thôi!
Hoạt động 2: Vẽ chân dung bản thân
a. Mục tiêu: Người học tự phân tích và nhìn nhận mình về các khía cạnh khác nhau để hình dung, nhận biết về bản thân, đồng thời rèn luyện kỹ năng lắng nghe, trình bày khi giao tiếp với người khác.
b. Cách tiến hành:
Bước 1: Làm việc cá nhân
Mỗi người được phát 1 tờ giấy và yêu cầu chuẩn bị (trong 5 phút) về những nội dung sau:
+ Ba điều mà bạn ưa thích về mình
+ Ba điều mà bạn không thích về mình
+ Ba điểm mạnh của bạn
+ Ba điểm yếu hoặc cần cố gắng của bạn
+ Đặc điểm nổi bật nhất của bạn
(Gợi ý: khuyến khích các bạn thích vẽ/có khả năng vẽ để mô tả bản thân khi giới thiệu về mình).
Bước 2: Chia sẻ theo từng cặp
- Từng cặp chia sẻ những đặc điểm về bản thân.
- Một vài bạn chia sẻ những điều đã nhận thức được về đặc điểm của bạn mình với cả lớp (có thể so sánh thêm điểm chung với mình).
- Bạn được giới thiệu có thể bổ sung, làm rõ hơn nếu thấy thông tin về mình chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác.
(Lưu ý: Không nên sử dụng những tờ giấy mà bạn mình viết về bản thân để giới thiệu với lớp, yêu cầu phải hiểu và kể lại được những điều mà bạn đã giới thiệu).
c. Kết luận:
Biết những điểm mạnh, điểm yếu, điều mình thích, không thích, đặc điểm nổi bật… chính là tự nhận thức về mình. Mỗi người đều có những điểm giống và khác nhau.
Hoạt động 3: Sâu sắc hóa bản chất khái niệm tự nhận thức
a. Mục tiêu: Giúp người học hiểu sâu sắc kỹ năng tự nhận thức và khả năng tự nhận thức ở mỗi người.
b. Cách tiến hành
Bước 1: Người học tự rút ra khái niệm về tự nhận thức thông qua hoạt động 1
Người dạy chốt lại:
Tự nhận thức là sự ý thức rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc cũng như đặc điểm hình thể của chính mình.
Bước 2: Hỏi đáp/phỏng vấn 2 câu hỏi sau:
- Trong những mặt điểm mạnh, điểm yếu, điều thích và không thích, đặc điểm nổi bật... điều nào bạn dễ trả lời nhất và điều nào khó trả lời nhất đối với bạn?
- Bạn có nhận xét gì về khả năng tự nhận thức của từng người, và đặc điểm của từng người?
Tổng hợp ý kiến của người học, bổ sung và chốt lại.
c. Kết luận:
1. Kỹ năng tự nhận thức về đặc điểm ở mỗi người là rất khác nhau:
- Có người khó nhận ra điểm yếu của mình, nhưng lại có người khó nhận ra điểm mạnh của mình.
- Có người có thể nhận ra ngay những điểm mạnh, điểm yếu, đặc điểm nổi bật, điểm thích và không thích của mình, nhưng cũng có bạn rất khó khăn khi xác định những điều này (biểu hiện là: có bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình, có bạn còn chưa hoàn thành, hoặc mới hoàn thành một phần).
2. Mỗi người đều có những điểm riêng và những điểm chung với người khác. Chúng ta cần tôn trọng cái riêng của mỗi người, nếu cái riêng đó không ảnh hưởng đến người khác, đến cộng đồng và xã hội.
- Có người khó nhận ra điểm yếu của mình, nhưng lại có người khó nhận ra điểm mạnh của mình.
- Có người có thể nhận ra ngay những điểm mạnh, điểm yếu, đặc điểm nổi bật, điểm thích và không thích của mình, nhưng cũng có bạn rất khó khăn khi xác định những điều này (biểu hiện là: có bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình, có bạn còn chưa hoàn thành, hoặc mới hoàn thành một phần).
2. Mỗi người đều có những điểm riêng và những điểm chung với người khác. Chúng ta cần tôn trọng cái riêng của mỗi người, nếu cái riêng đó không ảnh hưởng đến người khác, đến cộng đồng và xã hội.
Hoạt động 4: Thảo luận về con đường nâng cao kỹ năng tự nhận thức (Làm thế nào để có kỹ năng tự nhận thức đúng?)
a. Mục tiêu: người học nắm được ý nghĩa của kỹ năng tự nhận thức và biết cách rèn luyện kỹ năng tự nhận thức.
b. Cách tiến hành
Bước 1: Thảo luận nhóm (nhóm 5 – 7 người) theo các câu hỏi sau:
Ý thức về các đặc điểm khác nhau của bản thân để làm gì?
Có thể gợi ý cụ thể hơn:
- Biết điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để làm gì?
- Biết điều mình thích và điều mình không thích để làm gì?
- Biết đặc điểm/ tính cách của mình để làm gì?
- Biết nghề phù hợp với mình để làm gì?
Để nhận thức/ đánh giá đúng về mình, mỗi người cần phải làm gì?
Bước 2: Các nhóm trình bày kết quả
- Đại diện từng nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình.
- Người dạy bình luận, nhận xét hoặc hỏi của các nhóm khác về kết quả thảo luận của từng nhóm; tổng kết và chốt.
c. Kết luận:
1. Tự nhận thức rất cần thiết, nó giúp con người:
- Kỹ năng tự nhận thức giúp hiểu rõ về bản thân mình: đặc điểm, tính cách, thói quen, nhu cầu… các mối quan hệ xã hội cũng như những điểm tích cực và hạn chế của bản thân. Trên cơ sở đó có thể tự tin với những điểm mạnh của mình và cố gắng khắc phục những điểm yếu.
- Tự nhận thức giúp ta nhận biết được cả hai mặt ưu và nhước điểm của mình. Cần có suy nghĩ tích cực về những điều còn hạn chế của bản thân vì trong xã hội không có ai là hoàn thiện/hoàn hảo. Quan trọng là biết những hạn chế để cố gắng tự hoàn thiện.
- Tự nhận thức là cơ sở quan trọng giúp cho việc giao tiếp có hiệu quả và có tinh thần trách nhiệm đối với người khác (biết mình biết người trăm trận trăm thắng).
- Tự nhận thức cũng liên quan đến kỹ năng xác định giá trị, tức là thái độ, niềm tin của bản thân và điều mình cho là quan trọng hay cần thiết.
- Nhận thức rõ về bản thân giúp cá nhân biết điểm yếu và của mình và những điều mình thích/ không thích để có thể kiên định, tự tránh những mạo hiểm, tránh bị lợi dụng.
- Nhận thức rõ những khả năng của mình, những điều mình thích/ không thích giúp kiên định để có thể giải quyết vấn đề và ra quyết định hiệu quả.
- Tự nhận thức cũng giúp bản thân đặt ra những mục tiêu phấn đấu phù hợp và thực tế.
2. Tuy nhiên không phải ai cũng biết tự nhận thức về mình một cách chính xác. Muốn tự nhận thức/ đánh giá về mình đúng cần:
- Luôn tự suy nghĩ/ tự phân tích bản thân mình, tự đánh giá mình qua kết quả của hoạt động/ hành động, từng tình huống ứng xử.
- So sánh những nhận xét/ đánh giá của người khác về mình với tự nhận xét, tự đánh giá của bản thân
- So sánh với chuẩn mực, yêu cầu chung so sánh với những gương những người tốt, việc tốt để thấy mình cần phát huy và cần cố gắng gì.
- Tách ý thức về mình để nhìn nhận bản thân một cách khách quan.
Sự tự nhận thức được phát triển thông qua thực hành việc tập trung sự chú ý vào các chi tiết của cảm xúc, nhân cách và hành vi. Sau đây là một số kỹ thuật để phát triển sự tự nhận thức:
- Ghi lại những hành vi và cảm xúc khi đối diện với tình huống căng thẳng.
- Khi tương tác với những người bạn cảm thấy thoải mái, hãy hỏi họ những phản hồi về hành vi và hành động của bạn.
- Liệt kê ra các điểm mạnh và điểm cần cải thiện.
- Tìm kiếm người bạn tin tưởng để giúp bạn phân tích khả năng của mình một cách khách quan.
- Tìm kiếm công việc mà bạn đủ tiêu chuẩn và khả năng đảm nhận, sau đó nhờ cấp trên hoặc người cố vấn đánh giá bạn cần phải làm gì để cải thiện năng lực của mình.
- Tạo sự tin tưởng với người khác.
- Tận tâm, chú ý và tập trung vào công việc.
- Điều chỉnh bản thân để thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau.
- Tập tư duy tích cực, lạc quan và sáng tạo.
- Đặt ra mục đích và mục tiêu cho bản thân và cho công việc.
- Áp dụng kỹ thuật tự khẳng định.
Để quản lý bản thân hiệu quả, bạn cần có kỹ năng tự nhận biết. Đồng thời, tự nhận thức cho phép bạn hiểu rõ người khác và cách thức người khác cảm nhận về bản thân bạn, từ đó giúp bạn nâng cao kỹ năng làm việc đồng đội.
10 cách có thể giúp bạn có khả năng hiểu được giá trị của cơ thể mình
1. Có những nhận xét tích cực và cố tránh những nhận xét tiêu cực về cơ thể (bao gồm cả của bạn nữa). Cơ thể chúng ta rất ấn tượng, phức tạp và có những hệ thống rất chi tiết; cơ thể có khả năng thực hiện được rất nhiều các chức năng và chúng ta cần hiểu rõ giá trị của chúng.
2. Tập thể dục hoặc tham gia chơi các môn thể thao để cảm thấy thoải mái và cải thiện sức khoẻ bản thân.
3. Thường xuyên khen những ý kiến, tính cách và thành tựu của mọi người hơn là hình thức của họ.
4. Không cười hay coi thường, chế nhạo người ta trông như thế nào.
5. Nhớ là có rất ít người giống với các người mẫu và các ngôi sao màn bạc.
6. Không chấp nhận các giả thiết do xã hội tạo ra về cơ thể trông như thế nào, ví dụ như: phụ nữ nên gầy, đàn ông nên có cơ bắp”.
7. Hãy nhớ là mọi người đều khác nhau và ai cũng có nét đẹp riêng của bản thân.
8. Hãy tập trung vào những điều mà bạn thấy thích về bản thân bạn và lập mục tiêu để cải thiện những điều mà bạn có sự kiểm soát được – nhưng không chú trọng vào những thiếu sót của bạn.
9. Duy trì thói quen ăn uống có lợi cho sức khoẻ.
10. Nhớ là con người có nhiều kiểu cơ thể khác nhau. Mỗi kiểu cơ thể là duy nhất theo gen, dinh dưỡng, tập thể dục và các yếu tố khác nữa của họ.
- Kỹ năng tự nhận thức giúp hiểu rõ về bản thân mình: đặc điểm, tính cách, thói quen, nhu cầu… các mối quan hệ xã hội cũng như những điểm tích cực và hạn chế của bản thân. Trên cơ sở đó có thể tự tin với những điểm mạnh của mình và cố gắng khắc phục những điểm yếu.
- Tự nhận thức giúp ta nhận biết được cả hai mặt ưu và nhước điểm của mình. Cần có suy nghĩ tích cực về những điều còn hạn chế của bản thân vì trong xã hội không có ai là hoàn thiện/hoàn hảo. Quan trọng là biết những hạn chế để cố gắng tự hoàn thiện.
- Tự nhận thức là cơ sở quan trọng giúp cho việc giao tiếp có hiệu quả và có tinh thần trách nhiệm đối với người khác (biết mình biết người trăm trận trăm thắng).
- Tự nhận thức cũng liên quan đến kỹ năng xác định giá trị, tức là thái độ, niềm tin của bản thân và điều mình cho là quan trọng hay cần thiết.
- Nhận thức rõ về bản thân giúp cá nhân biết điểm yếu và của mình và những điều mình thích/ không thích để có thể kiên định, tự tránh những mạo hiểm, tránh bị lợi dụng.
- Nhận thức rõ những khả năng của mình, những điều mình thích/ không thích giúp kiên định để có thể giải quyết vấn đề và ra quyết định hiệu quả.
- Tự nhận thức cũng giúp bản thân đặt ra những mục tiêu phấn đấu phù hợp và thực tế.
2. Tuy nhiên không phải ai cũng biết tự nhận thức về mình một cách chính xác. Muốn tự nhận thức/ đánh giá về mình đúng cần:
- Luôn tự suy nghĩ/ tự phân tích bản thân mình, tự đánh giá mình qua kết quả của hoạt động/ hành động, từng tình huống ứng xử.
- So sánh những nhận xét/ đánh giá của người khác về mình với tự nhận xét, tự đánh giá của bản thân
- So sánh với chuẩn mực, yêu cầu chung so sánh với những gương những người tốt, việc tốt để thấy mình cần phát huy và cần cố gắng gì.
- Tách ý thức về mình để nhìn nhận bản thân một cách khách quan.
Sự tự nhận thức được phát triển thông qua thực hành việc tập trung sự chú ý vào các chi tiết của cảm xúc, nhân cách và hành vi. Sau đây là một số kỹ thuật để phát triển sự tự nhận thức:
- Ghi lại những hành vi và cảm xúc khi đối diện với tình huống căng thẳng.
- Khi tương tác với những người bạn cảm thấy thoải mái, hãy hỏi họ những phản hồi về hành vi và hành động của bạn.
- Liệt kê ra các điểm mạnh và điểm cần cải thiện.
- Tìm kiếm người bạn tin tưởng để giúp bạn phân tích khả năng của mình một cách khách quan.
- Tìm kiếm công việc mà bạn đủ tiêu chuẩn và khả năng đảm nhận, sau đó nhờ cấp trên hoặc người cố vấn đánh giá bạn cần phải làm gì để cải thiện năng lực của mình.
- Tạo sự tin tưởng với người khác.
- Tận tâm, chú ý và tập trung vào công việc.
- Điều chỉnh bản thân để thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau.
- Tập tư duy tích cực, lạc quan và sáng tạo.
- Đặt ra mục đích và mục tiêu cho bản thân và cho công việc.
- Áp dụng kỹ thuật tự khẳng định.
Để quản lý bản thân hiệu quả, bạn cần có kỹ năng tự nhận biết. Đồng thời, tự nhận thức cho phép bạn hiểu rõ người khác và cách thức người khác cảm nhận về bản thân bạn, từ đó giúp bạn nâng cao kỹ năng làm việc đồng đội.
10 cách có thể giúp bạn có khả năng hiểu được giá trị của cơ thể mình
1. Có những nhận xét tích cực và cố tránh những nhận xét tiêu cực về cơ thể (bao gồm cả của bạn nữa). Cơ thể chúng ta rất ấn tượng, phức tạp và có những hệ thống rất chi tiết; cơ thể có khả năng thực hiện được rất nhiều các chức năng và chúng ta cần hiểu rõ giá trị của chúng.
2. Tập thể dục hoặc tham gia chơi các môn thể thao để cảm thấy thoải mái và cải thiện sức khoẻ bản thân.
3. Thường xuyên khen những ý kiến, tính cách và thành tựu của mọi người hơn là hình thức của họ.
4. Không cười hay coi thường, chế nhạo người ta trông như thế nào.
5. Nhớ là có rất ít người giống với các người mẫu và các ngôi sao màn bạc.
6. Không chấp nhận các giả thiết do xã hội tạo ra về cơ thể trông như thế nào, ví dụ như: phụ nữ nên gầy, đàn ông nên có cơ bắp”.
7. Hãy nhớ là mọi người đều khác nhau và ai cũng có nét đẹp riêng của bản thân.
8. Hãy tập trung vào những điều mà bạn thấy thích về bản thân bạn và lập mục tiêu để cải thiện những điều mà bạn có sự kiểm soát được – nhưng không chú trọng vào những thiếu sót của bạn.
9. Duy trì thói quen ăn uống có lợi cho sức khoẻ.
10. Nhớ là con người có nhiều kiểu cơ thể khác nhau. Mỗi kiểu cơ thể là duy nhất theo gen, dinh dưỡng, tập thể dục và các yếu tố khác nữa của họ.
Hoạt động 5: Rèn luyện kỹ năng tự nhận thức
a. Mục tiêu: Giúp người học trải nghiệm những đánh giá của người khác về mình và có thái độ tích cực đối với những nhận xét, đánh giá đó. Qua đó củng cố kỹ năng tự nhận thức về bản thân.
b. Cách tiến hành
Chia nhóm lớn thành các nhóm nhỏ:
Nhóm 1:
Chơi trò chơi : Tiếp nhận đánh giá, nhận xét của người khác về mình
- Mỗi người được phát 1 tờ giấy, 1 cái bút và 1 mẩu băng dính để mỗi người tự ghi tên mình vào góc trên của tờ giấy, hoặc vẽ 1 biểu tượng nào đó tượng trưng cho mình vào giữa tờ giấy, rồi dán vào sau lưng mình (chuẩn bị trong 2 phút).
- Khi có hiệu lệnh “bắt đầu”, thì tất cả di chuyển nhanh đến sát những những bạn khác để ghi lên tờ giấy sau lưng họ những lời nhận xét của mình về bạn.
- Khi hiệu lệnh “hết giờ” thì kết thúc trò chơi và về vị trí của mình.
- Tất cả mọi người gỡ tờ giấy sau lưng mình để xem người khác nhận xét về mình như thế nào.
- Một vài bạn đọc những nhận xét đó cho cả nhóm lớn nghe (nếu muốn).
- Người học phát biểu về cảm xúc/suy nghĩ của mình về những lời nhận xét đó.
- Nếu có những nhận xét về nhược điểm, hay nhận xét chưa chính xác về mình, thì hãy gợi ý học sinh đến những suy nghĩ tích cực như: mình sẽ cố gắng để mình hoàn thiện hơn, hay chẳng lẽ mình lại như thế ư? mình sẽ tự tin và khẳng định rằng mình không phải như bạn nghĩ đâu...
Nhóm 2: Đọc truyện và thảo luận nhóm
Trung đang là học sinh lớp 12. Cậu thông minh nhưng không chăm học lắm. Vì thế kết quả học tập của Trung không bằng anh khi anh còn đi học. Và có nhiều tài lẻ anh có mà cậu không có. Cậu cũng rất tự hào về anh của mình. Cậu thích bóng đá và rất thuộc tên của các cầu thủ và các đội cũng như tên của các sân bóng của các đội. Cậu cũng rất nhớ các sự kiện lịch sử mà anh cậu lại không nhớ tốt. Anh cậu hay phải hỏi cậu về những thông tin dạng này. Tuy nhiên, cậu luôn bị bà ngoại mang ra so sánh với anh về sự cẩn thận, về ý thức tiết kiệm, về sự sạch sẽ và cả về học tập. Cậu thấy vô cùng khó chịu khi bị so sánh như vậy nhưng cậu đã chấp nhận sự ”thua thiệt” này và coi như là ”số phận” đã an bài.
Bạn đánh giá thế nào về Trung? Nếu là địa vị của Trung bạn sẽ suy nghĩ và hành động như thế nào?
- Kết quả thảo luận nhóm được thư ký viết vào giấy to để trình bày trước nhóm lớn. Đại diện nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình.
- Các nhóm khác bình luận kết quả vừa được trình bày.
- Người dạy tổng hợp các ý kiến, bổ sung và chốt lại kết quả hoạt động của cả 2 nhóm.
c. Kết luận:
+ Khi nghe ý kiến của những người khác nhận xét, đánh giá về mình, chúng ta cần bình tĩnh, sáng suốt xem xét ý kiến nào là khách quan, chân thực thì sẽ tiếp nhận, còn ý kiến nào là khen quá lời, hay định kiến, thiếu khách quan chỉ nên để tham khảo.
+ Lời khen quá mức cũng nguy hiểm. Vì những lời khen được ví như là nước hoa, chỉ nên để ngửi, chứ không thể để uống được. Nếu say sưa với những lời khen có thể dẫn đến kiêu ngạo, tự cao tự đại, không đánh giá đúng mình.
+ Lời nhận xét định kiến, hạ thấp có thể làm ta bi quan. Ta không nên thiếu tự tin trước những lời nhận xét như vậy. Hãy tự khẳng định mình để chứng tỏ ta không như họ nghĩ.
+ Lời khen quá mức cũng nguy hiểm. Vì những lời khen được ví như là nước hoa, chỉ nên để ngửi, chứ không thể để uống được. Nếu say sưa với những lời khen có thể dẫn đến kiêu ngạo, tự cao tự đại, không đánh giá đúng mình.
+ Lời nhận xét định kiến, hạ thấp có thể làm ta bi quan. Ta không nên thiếu tự tin trước những lời nhận xét như vậy. Hãy tự khẳng định mình để chứng tỏ ta không như họ nghĩ.
5.Tổng kết bằng việc trả lời các câu hỏi
- Từ chủ đề này bạn đã thu được gì cho bản thân mình về tự nhận thức?
- Những kỹ năng sống nào nữa được sử dụng trong chủ đề này?
B. KỸ NĂNG LẮNG NGHE
I. MỘT SỐ YÊU CẦU:1/Nghiên cứu giáo án về kỹ năng tự nhận thức phần A của thông tin PHẦN II: NỘI DUNG BÀI HỌC và trả lời các câu hỏi sau:
+ Kỹ năng lắng nghe là gì?
+ Giáo dục kỹ năng lắng nghe là giáo dục những nội dung gì?
+ Có những phương pháp nào được áp dụng trong dạy kỹ năng này
+ Có những hoạt động nào có thể lựa chọn trong dạy kỹ năng này?
2/ Xây dựng bài dạy kỹ năng lắng nghe theo cấu trúc nội dung khác và triển khai kế hoạch theo thời gian. Có thể có bao nhiêu loại giáo án cho nội dung Kỹ năng này?
3/Thực hành giờ dạy (hoạt động) giáo dục kỹ năng lắng nghe.
II. NỘI DUNG BÀI HỌC
Nghe, nói, đọc, viết là bốn kỹ năng giao tiếp quan trọng cho mỗi con người. Khi đi học, chúng ta dành 45% thời gian để học viết, 35% để học đọc, 25% để học nói, nhưng ít ai được dạy cách lắng nghe. Nhưng lớn lên, ra đời chúng ta nhận ra chính kỹ năng lắng nghe mới là quan trọng hàng đầu. Nhiều người có thể nói nửa ngày, nhưng nghe người khác vài phút đã phải cố gắng…
* Lắng nghe không có nghĩa là im lặng
+ Lắng nghe không đơn giản là im lặng: Khi bạn nói trước cuộc họp hay đám đông, nhìn xuống hội trường thấy im phăng phắc, nhưng mọi người kẻ lơ đãng, người cúi gằm, người nhí nhoáy nhắn tin điện thoại, kẻ liếc đọc báo, bạn cũng không thấy thú vị và hài lòng.
+ Lắng nghe cũng không đơn giản là nghe.
+ Lắng nghe có nghĩa là cái đầu phải làm việc, phải phân tích, phán đoán, phải có những phản ứng phù hợp, hay phải biết gật gù tán đồng, phải chắt lọc thông tin, phải biết đặt câu hỏi phản hồi.
Với người nói, không có gì buồn chán hơn là sau khi mình phát biểu, hỏi lại mọi người có ý kiến gì không, chẳng ai giơ tay, không một lời đáp lại.
* Lắng nghe bằng cả cơ thể
Trong giao tiếp, chỉ có 7% thông tin nhận được thông qua lời nói, còn có tới 55% qua những cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, tư thế đứng, ngồi và 38% thông qua ngữ điệu và giọng nói.
Những điều nên làm trong quá trình lắng nghe:
+ Bạn phải hoà mình vào cuộc đối thoại.
+ Phải nhìn chăm chú vào người nói.
+ Gật gù tán thưởng.
+ Nháy mắt khuyến khích.
+ Thêm một vài từ đệm: ừ hứ; vâng, đúng vậy, chính xác, tuyệt…
+ Nếu có cơ hội, đặt lại câu hỏi làm rõ thêm: tại sao lại thế? Nói rõ hơn được không?
+ Nhắc lại một số ý mà mình đã nghe được
Điều không nên làm khi nghe:
+ Không nói leo, chen ngang, ngắt lời người khác.
+ Đặc biệt tránh những cử chỉ như ngồi rung đùi, gác chân lên ghế, đứng chống nạnh, quay ngang quay ngửa, thỉnh thoảng liếc đồng hồ, dùng tay chỉ trỏ, thì thầm với người bên cạnh (dù bạn đã cố gắng lấy tay hay tờ báo che miệng).
+ Không gây ồn ào quá mức, biểu hiện cảm xúc thái quá như lo lắng, co dúm người lại, giật mình, lè lưỡi, lắc đầu quầy quậy khi nghe người khác nói cũng là điều không nên.
* Được lắng nghe là một nhu cầu tâm lý
Được người khác lắng nghe là một nhu cầu tâm lý của tất cả chúng ta. Một đứa trẻ đi học mẫu giáo về bi bô kể cho cha mẹ nghe đủ thứ xảy ra ở trường, nó chỉ mong muốn có người lắng nghe nó, để nó cảm thấy nó quan trọng. Vậy mà cha mẹ nhiều khi đã không chịu nghe, lại còn quát “im đi”. Dù có điều bạn biết rồi, nhưng khi bạn của bạn hay ai đó nói, bạn hãy học cách lắng nghe, bởi đó là cách thể hiện sự tôn trọng.
Con người khát khao được tâm sự, chia sẻ, nhưng tiếc rằng những người xung quanh ít có kỹ năng lắng nghe. Thế là người ta phải tìm đến tổng đài, các trung tâm tư vấn. Các chuyên gia tư vấn không phải là những người nói giỏi, mà họ biết lắng nghe. Không ít người tìm đến đó để được nói, nói xong thì nhẹ nhõm, dễ chịu!
Bạn nói giỏi, viết giỏi sẽ được mọi người thán phục, kính nể. Nhưng bạn lắng nghe giỏi sẽ được mọi người yêu mến, muốn gần gũi. Tuy nhiên, lắng nghe là một kỹ năng, phải được học tập và rèn luyện hàng ngày để dần dần trở thành thói quen, thành tính cách của chính bạn. Hãy bắt đầu từ bây giờ, nói ít đi một chút và hãy lắng nghe nhiều hơn, bạn sẽ thành công!
Hoạt động trải nghiệm : Kỹ năng lắng nghe.
Cách tiến hành:
- Chia lớp thành 6 nhóm sao cho số người của các nhóm bằng nhau ( số còn lại giúp chủ trò, được chủ trò hướng dẫn). phân biệt các nhóm bằng các tên gọi khác nhau.
- Chọn 4/6 nhóm: Yêu cầu mọi người ở các nhóm khác nhau chia sẻ về uớc mơ, sở thích, mong muốn, niềm hy vọng của bản thân.
- Chọn 1 nhóm chia sẻ với nhóm còn lại (*) về nỗi sợ hãi, lo lắng của bản thân. Nhóm còn lại (*) đóng vai là người không biết lắng nghe theo hướng dẫn của chủ trò (luôn phản đối, chê bai, dè bỉu, không muốn nghe, vội vàng…). Lưu ý: Nhóm còn lại này được tách ra để hướng dẫn riêng.
- Sau thời gian chuẩn bị, chọn các cặp đôi ở các nhóm khác nhau lên thực hành, những người khác quan sát (cử chỉ, lời nói, hành vi, thái độ...) rồi nhận xét, rút kinh nghiệm…Đặc biệt chú ý đến nhóm chia sẻ về nỗi sợ hãi và nhóm không biết lắng nghe, hỏi về cảm xúc của người chia sẻ khi bên kia không biết lắng nghe..
Tuỳ vào hiệu quả thực hành của các cặp đôi mà chủ trò dừng lại ở thời điểm thích hợp.
-> Lý thuyết về kỹ năng lắng nghe. ( Thế nào là lắng nghe? Tại sao cần rèn luyện kỹ năng lắng nghe? Những điều nên, không nên…)
C. KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS
1. Mục tiêu
Kiến thức:
- Học sinh nhận biết được một số tình huống tạo nên (Stress) căng thẳng.
- Học sinh biết được những biểu hiện của sự căng thẳng và tác động của nó đối với cuộc sống.
Thái độ:
- Học sinh có thái độ tích cực đối với những tình huống gây căng thẳng.
- Học sinh sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Kỹ năng sống:
- Nhận biết và biết cách biểu lộ cảm xúc.
- Học sinh có khả năng tìm ra những cách ứng phó tích cực trong tình huống gây căng thẳng. Biết cách giải toả cảm xúc và làm chủ cảm xúc.
- Rèn luyện kỹ năng suy nghĩ tích cực, kỹ năng giao tiếp khi làm việc nhóm và làm việc chung toàn lớp, kỹ năng tự nhận thức cảm xúc của bản thân, tư duy phê phán.
2. Thông điệp
Tình huống gây căng thẳng luôn tồn tại trong cuộc sống, tác động đến con người, gây ra cảm xúc mạnh, phần lớn là cảm xúc tiêu cực, ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần.
Trong tình huống gây căng thẳng, suy nghĩ tích cực là cách giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng mới để tránh rơi vào trạng thái căng thẳng không cần thiết.
Khi gặp tình huống gây căng thẳng, có người biết ứng phó tích cực, có người ứng phó tiêu cực. Do vậy, biết làm chủ cảm xúc, tìm ra cách ứng phó có hiệu quả, phù hợp với điều kiện bản thân là rất quan trọng.
Chúng ta cần biết cách phòng tránh để ít rơi vào trạng thái căng thẳng hoặc chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đón nhận nó như một phần tất yếu của cuộc sống và tìm cách giải quyết chúng.
3. Tài liệu và phương tiện
- Giấy khổ lớn, bút dạ
- Phiếu in sẵn cách ứng phó với căng thẳng
- Tình huống trao đổi
4. Hướng dẫn tổ chức hoạt động
Hoạt động 1: Tìm hiểu triệu chứng của Stress
a. Mục tiêu:
- Học sinh nhận biết được và tình huống gây căng thẳng và những triệu chứng của nó trong cuộc sống.
b. Cách tiến hành:
Yêu cầu học sinh liệt kê những tình huống tạo căng thẳng trong cuộc sống
Khái quát một số tình huống có thể tạo nên căng thẳng như:
- Mâu thuẫn, xích mích với bạn bè
- Áp lực học tập
- Áp lực kỳ vọng và mục tiêu cao
- Bị trách mắng không đúng
- Bị ngăn cản tình yêu
- Mất người thân
- Bị ghét bỏ, trù dập
- Áp lực của bạn bè...
Thảo luận chung cả lớp:
| 1/ Biểu hiện cảm xúc, cơ thể và hành vi nào xuất hiện trong tình huống căng thẳng? 2/ Có nên để cảm xúc điều khiển hành động của chúng ta không? 3/ Ai là người dễ bị rơi vào trạng thái căng thẳng? |
Giáo viên tổng hợp ý kiến thảo luận của học sinh và nhấn mạnh:
- Khi căng thẳng, con người xuất hiện cảm xúc, hành vi có thể mang tính tích cực, nhưng chủ yếu mang tính tiêu cực.
- Cảm xúc tiêu cực thể hiện: buồn rầu, bực tức, cáu giận, thất vọng, bi quan chán nản, lo sợ, mặc cảm tội lỗi, nghi ngờ, cảm thấy không có ý nghĩa, giảm nhiệt tình và tính hài ước.
+ Những dấu hiệu của cơ thể: Đau đầu, tức ngực, khó thở, chóng mặt, hay mệt mỏi, đau người, mất ngủ, ăn không ngon, hồi hộp, viêm loét dạ dày, khô miệng, tim đập nhanh, toát mồ hôi...
+ Những dấu hiệu hành vi: Nổi khùng, ngại tiếp xúc với người khác, nói nhiều, uống rượu, hút thuốc lá, phản ứng chậm chạp, phá phách, gây sự, đi lang thang, tự gây thương tích...
- Cảm xúc tích cực thể hiện ở sự quyết tâm, hy vọng, biết chấp nhận, vượt khó.
- Chúng ta không nên để cảm xúc chi phối hành vi, không nên hành động khi cảm xúc đang tràn đầy vì như vậy dễ sai lầm, không sáng suốt.
- Những người nhút nhát, ít kinh nghiệm sống, sống thu mình, ít quan hệ bạn bè, hay mơ mộng, cầu toàn... dễ bị rơi vào trạng thái căng thẳng.
c. Kết luận:
Tình huống gây căng thẳng (stress) là những sự việc, vấn đề xảy ra trong cuộc sống, trong mối quan hệ phức tạp giữa con người, những thay đổi của môi trường tự nhiên tác động đến con người và gây ra cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực, ảnh hưởng đến con người cả về thể chất lẫn tinh thần.
Tình huống căng thẳng của người này có thể không gây căng thẳng cho người khác mà chỉ là một tình huống cần giải quyết. Điều đó phụ thuộc vào kinh nghiệm sống, sự sẵn sàng đón nhận những khó khăn, khả năng đương đầu và tìm ra cách giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của mỗi người...
Hoạt động 2: Cách giải tỏa cảm xúc tiêu cực
a. Mục tiêu:
Học sinh nhận thấy cần giải toả cảm xúc và biết cách giải toả những cảm xúc tiêu cực một cách tích cực.
b. Cách tiến hành:
Bước 1: Làm việc theo nhóm
Chia học sinh thành nhóm 4 người và thảo luận về ví dụ sau:
Trong lớp học, có một nhóm bạn hay chơi với nhau. Mai là Lê là hai người trong nhóm đó. Nhưng không hiểu sao, Mai luôn cảm thấy khó chịu khi có mặt Lê trong cùng nhóm bạn. Mai sẵn sàng công kích Lê khi có cơ hội và tỏ ra khá gay gắt. Điều này làm cho không khí của nhóm cũng căng thẳng. Mai cũng không hiểu vì sao mình lại như vậy?
Câu hỏi thảo luận:
- Có phải thật sự Mai không nhận ra vì sao mình có cảm xúc như vậy không? Thực chất vì sao Mai có cảm xúc như vậy?
- Nếu chúng ta không nhìn nhận có cảm xúc tiêu cực, nó có tự động mất đi không? Nếu cảm xúc tiêu cực ứ đọng lại trong lòng, chuyện gì sẽ xảy ra?
- Bằng cách nào chúng ta làm cho những cảm xúc tiêu cực thoát ra và tan biến?
- Chúng ta có thay đổi được cách suy nghĩ trước một vấn đề nảy sinh không? Làm thế nào để mọi người luôn có suy nghĩ tích cực?
Bước 2: Làm việc chung toàn lớp
- Đại diện từng nhóm học sinh lên trình bày kết quả thảo luận trước lớp
- Các nhóm khác có thể bổ sung, góp ý
c. Kết luận:
- Có thể đôi khi chúng ta không nhìn nhận ra mình có một cảm xúc nào đó nhưng cũng có khi vì cho rằng đó là cảm xúc xấu nên không muốn thừa nhận nó.
- Nếu không nhìn nhận ra cảm xúc đó chúng ta sẽ không biết cách để giải toả nó thì nó sẽ đi sâu vào trong tiềm thức.
- Nếu những cảm xúc tiêu cực ứ đọng trong lòng nó sẽ điều khiển hành động của chúng ta trong vô thức theo hướng tiêu cực.
- Khi căng thẳng, chúng ta thường có cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực dẫn đến những việc làm không đúng. Do đó, điều hết sức quan trọng là phải ý thức được chúng ta đang có cảm xúc đó, và suy nghĩ để giải quyết một cách tích cực.
- Để có suy nghĩ tích cực, chúng ta cần tìm hiểu rõ vấn đề, nhìn nhận chúng theo chiều hướng tốt, hạn chế những mặt tiêu cực. Nhờ có suy nghĩ tích cực, chúng ta không bi quan, chán nản mà ngược lại, chúng ta sẽ cố gắng tìm cách để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Khi bị căng thẳng với do người khác mang lại, hãy tìm những điểm mạnh của họ thay vì chỉ xem họ có những nhược điểm nào cũng là biểu hiện của suy nghĩ tích cực.
10 CÁCH ĐỂ LÀM GIẢM STRESS
- Nói chuyện với một người lớn mà bạn tin tưởng hay với một người bạn về cảm xúc của bạn.
- Có hành động làm giảm hay thay đổi điều gây ra căng thẳng.
- Đảm bảo chắc chắn là bạn ăn uống sạch sẽ.
- Ngủ thật nhiều mỗi đêm.
- Hãy tích cực hoạt động: tập thể dục, chạy, nhảy, xả bớt đi những điều gây khó chịu.
- Hãy thở sâu 10 lần khi bạn cảm thấy căng thẳng, hãy thư giãn.
- Cố gắng hết sức để tránh các tình huống căng thẳng, như thế sẽ đảm bảo an toàn.
- Hãy lắng nghe cơ thể mình và xem bạn nghe được gì từ cơ thể mình, hãy tỏ thái độ đối xử quan tâm đến cơ thể mình.
- Mỗi ngày hãy làm việc gì đó tốt cho chính mình cho dù đó là việc rất nhỏ.
- Cần nhớ là có một số việc mà bạn không thể thay đổi được nhưng bạn đối phó với những việc đó như thế nào mới là quan trọng. Hãy áp dụng việc độc thoại tích cực để giúp giảm đi những cảm xúc căng thẳng.
Hoạt động 3: Lựa chọn cách ứng phó
a. Mục tiêu:Học sinh có khả năng tìm ra cách ứng phó hiệu quả với những căng thẳng trong cuộc sống.
Hiểu được ý nghĩa của việc đưa ra cách ứng phó tích cực.
b. Cách tiến hành:
Phát cho các học sinh phiếu in sẵn các tình huống gây căng thẳng.
Tình huống 1. Một thầy giáo buộc tội bạn là thủ phạm của những câu chữ viết bậy bạ lên tường nhà vệ sinh và dọa sẽ hạ điểm đạo đức của bạn, tuy nhiên bạn biết rõ là bạn vô tội mà thủ phạm chính là đứa bạn thân cùng lớp bạn. Bạn sẽ ứng xử thế nào?
Tình huống 2. Cha mẹ ngăn cản bạn chơi với một người bạn có cá tính. Bạn hiểu rằng cha mẹ mình do định kiến, không hiểu thực chất con người bạn đó. Còn bạn thấy mình học hỏi được từ bạn ấy nhiều điều bổ ích, nên bạn không muốn mất một người bạn như vậy. Mỗi lần cha mẹ bắt gặp bạn đi cùng bạn đó là bố mẹ lại mắng mỏ làm cho bạn rất tức và cảm thấy rất căng thẳng. Bạn sẽ xử lý như thế nào?
Tình huống 3. Vào giờ học, thầy giáo đang viết trên bảng, ở dưới lớp có tiếng pha trò ồn ào và tiếng cười khúc khích. Thầy bực mình quay xuống thì bắt gặp một HS đang nói chuyện và cười. Sau đây là cuộc đối thoại giữa 2 thầy trò:
GV: Em đang làm cái gì vậy? Tại sao em cười trong giờ học?
HS: Chẳng có gì cả! Không phải em.
GV: (Bực tức hơn) Nếu không phải em, vậy ai cười?
HS: Em không biết.
GV: Nếu không biết, mời em ra khỏi lớp.
HS: Không… vô lý! Em không có lỗi, tại sao em phải ra khỏi lớp.
GV: Tôi nói là cậu ra khỏi lớp.
HS:…(căng thẳng và phải nên như thế nào?)
- Yêu cầu học sinh liệt kê những cách ứng phó khi ở trong hoàn cảnh đó
Những cách ứng phó có thể là:
- Khóc
- Tâm sự với bạn thân
- Cố gắng giải thích
- Uống rượu
- Hút thuốc lá
- Bỏ đi khỏi nhà
- Nhờ thầy cô giúp đỡ
- Đập phá đồ đạc
- …………….
- Tìm kiếm sự giúp đỡ thông qua dịch vụ tham vấn, tư vấn...
- Yêu cầu một số học sinh đưa ra cách ứng phó đã chọn và giải thích tại sao lại chọn như vậy.
- Giáo viên đưa ra một vài tình huống khác và tiếp tục làm như trên.
Sau khi các nhóm hoàn thành, người hướng dẫn tiếp tục hoạt động bằng câu hỏi thảo luận chung cho cả lớp:
| - Liệu mọi người có cách ứng phó chung cho cùng một tình huống gây căng thẳng hay không? Tại sao? - Có phải mọi người luôn đưa ra được cách ứng phó tích cực? |
Giáo viên ghi lại tất cả các ý kiến của học sinh lên bảng và đưa ra kết luận.
c. Kết luận:
Trong một tình huống gây căng thẳng có thể có nhiều cách ứng phó khác nhau. Việc lựa chọn cách ứng phó nào phụ thuộc vào nhận thức, kinh nghiệm sống, nhân cách, điều kiện của mỗi người.
Khi gặp tình huống căng thẳng; có người không tìm được cách ứng phó tích cực mà đưa ra cách giải quyết mang tính tiêu cực.
Rèn luyện kỹ năng nhận thức, kỹ năng giải quyết vấn đề, tìm kiếm sự giúp đỡ là rất cần thiết để giúp các bạn vượt qua những khủng hoảng, căng thẳng trong cuộc sống.
Hoạt động 4: Phòng ngừa tình huống căng thẳng
Mục tiêu: Học sinh có khả năng xây dựng một cuộc sống lành mạnh, hạn chế những yếu tố nguy cơ tạo nên căng thẳng.
Cách tiến hành:
- Có thể làm việc chung cả lớp (nếu không đủ thời gian), hoặc chia học sinh thành nhóm 4 người thảo luận:
Làm thế nào chúng ta có thể hạn chế tình huống căng thẳng trong cuộc sống?
- Các nhóm viết kết quả thảo luận ra giấy khổ lớn và lên trình bày.
c. Kết luận:
Tình huống gây căng thẳng ngày càng xuất hiện nhiều trong cuộc sống, để phòng tránh chúng ta cần thực hiện:
- Nhận thức sớm về căng thẳng giúp bạn có thời gian để thay đổi kiểu suy nghĩ, gạt bỏ tình huống được hiểu là căng thẳng và có hành động hợp lý hay hướng đến điều chỉnh phản ứng sinh lý.
- Nhận thức rõ tình huống gây căng thẳng để hạn chế mức độ của nó, tránh những sự kiện gây căng thẳng không đáng có (mâu thuẫn, đố kị).
- Thực hiện chế độ làm việc, học tập, hợp lý: biết lập kế hoạch, lựa chọn mục tiêu phù hợp khả năng.
- Có lối sống lành mạnh, tránh xa những thói hư, tật xấu như nghiện rượu, lô đề, ma tuý, quan hệ tình dục sớm...
- Thường xuyên rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi, giải trí hợp lý. Thân thiện, cởi mở với mọi người xung quanh.
- Những yếu tố khác giúp phòng tránh stress như là có thể tránh xa những sự việc được hiểu là căng thẳng, kiểm soát nhịp thở, tập luyện, đếm đến 10, nghe nhạc, thiền, gặp gỡ những người bạn mình tin tưởng để nói chuyện với nhau về tình huống đó đều là những cách tích cực để phá vỡ chu kỳ phản ứng stress.
Hoạt động 5: Liên hệ cá nhân về Stress
- Có 3 điều gì trong cuộc sống của anh/chị vào thời điểm này khiến anh chị cảm thấy “stress”?
- Làm thế nào anh/chị biết được rằng mình đang cảm thấy stress? Anh/chị cảm thấy stress ở chỗ nào trên cơ thể mình?
- Những chiến lược nào anh/chị có thể bắt đầu áp dụng từ hôm nay để giúp giảm đi những cảm xúc stress?
5. Tổng kết
Để người tham gia nêu lên:
- Những thông điệp nào được rút ra từ chủ đề này
- Những kỹ năng sống nào được sử dụng trong chủ đề này
Sau đó người tổ chức chốt lại:
Những điều cần ghi nhớ trong chủ đề này:
+ Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể gặp những tình huống thường gây căng thẳng như: sắp đến kì thi, giận dỗi với bạn bè, bị khiển trách oan, bị thất bại trong học tập hoặc công việc, bị lôi kéo, bị ép buộc làm những việc mà mình không thích…
+ Tình huống căng thẳng luôn tồn tại trong cuộc sống và có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ thể chất và tinh thần con người. Nhận biết được các dấu hiệu căng thẳng, cách ứng phó và phòng ngừa nó là điều cần thiết để làm giảm mức độ tác động hoặc tránh rơi vào tình huống căng thẳng.
Những kỹ năng sống được sử dụng trong chủ đề này:
+Kỹ năng suy nghĩ tích cực
+Kỹ năng giao tiếp khi làm việc nhóm và làm việc chung toàn lớp
+ Kỹ năng tự nhận thức cảm xúc của bản thân
+ Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
Điểm số của bạn về stress được bao nhiêu?
Cộng lại tất cả các con số mà bạn đã khoanh lại và viết tổng số vào đây___
Nếu điểm số của bạn là:
Dưới 10 điểm
Bạn gặp rất ít stress trong cuộc đời mình. Mối quan hệ của bạn trong gia đình là tốt đẹp và lành mạnh, còn ở trường học thì mội việc dường như tốt với cả giáo viên cũng như những bạn bè cùng lớp. Bạn gặp rất ít điều buồn phiền trong những năm vừa qua và bạn thường có tâm trạng tốt.
Từ 10 đến 20 điểm
Bạn gặp ít stress trong cuộc sống của mình. Có thể bạn đã phải trải qua một thay đổi hoặc mất mát lớn trong năm nay. Hãy giành ra một khoảng thời gian để nói chuyện với bạn bè hoặc một người mình tin tưởng, nếu như bạn chưa giành nhiều thời gian cho việc này. Hãy cố gắng không để tình cảm của mình bị rơi vào bế tắc.
Từ 21 điểm trở lên
Bạn có mức độ stress rất cao trong cuộc sống và có thể đã phải trải qua một số những thay đổi quan trọng trong năm nay. Có thể bạn đã gặp rắc rối ở trường học hoặc trong gia đình. Có thể một người thân với bạn bị ốm hoặc chết. Có thể bạn có những mối lo lắng cho gia đình. Nhưng cho dù điều gì xảy ra thì cũng phải đảm bảo là bạn phải biết chăm sóc cho mình và yêu cầu giúp đỡ nếu thấy cần thiết. Hãy học cách để làm giảm những cảm giác căng thẳng của mình.
Bài trắc nghiệm stress
Bài trắc nghiệm nhỏ này sẽ giúp bạn đánh giá được stress mà bạn có trong cuộc sống của mình. Hãy khoanh tròn vào con số bên cạnh mỗi sự việc stress đã xảy ra với bạn trong một năm trở lại đây. Sau đó hãy cộng dồn lại tất cả các con số mà bạn đã chọn đó để xem mức độ stress của bạn đến đâu.
| 1. bố ốm nặng hoặc gặp tai nạn…………………………………………. 2. gặp rắc rối với bạn bè hoặc hàng xóm………………………………... 3. do cái chết của một người bạn………………………………………... 4. thường cảm thấy chán nản…………………………………………… 5. bỏ học một thời gian, hoặc bị lưu ban một năm……………………… 6. thay đổi trường học…………………………………………………… 7. gặp khó khăn với việc học………………………………………….. 8. gặp rắc rối với giáo viên……………………………………………. 9. chuyển nhà……………………………………………………………. 10. bố mẹ li thân hoặc ly dị…………………………………………... 11. có bố dượng hoặc mẹ kế………………………………………….. 12. có thêm (sinh ra hoặc nhận nuôi) em gái hoặc em trai…………… 13. có họ hàng chuyển đến ở cùng nhà mình………………………… 14. em gái hoặc em trai bỏ nhà đi……………………………………. 15. người nhà bị chấn thương hoặc ốm nặng………………………. 16. một con vật cảnh bị mất hoặc chết……………………………... 17. bố/mẹ hoặc một người thân trong gia đình bị chết……………….. 18. bị lạm dụng dưới bất kỳ hình thức nào (tình dục, thân thể, tình cảm)………………………………………………... 19. gia đình xảy ra cãi nhau hoặc đánh nhau…………………………. 20. người gần gũi với anh/chị nghiện rượu hoặc ma tuý……………… | 7 2 8 4 4 4 2 2 4 8 6 4 4 4 4 4 10 10 6 8 |
D. KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
1. Mục tiêu
Kiến thức:
- Người học biết xác định vấn đề xung đột.
- Tìm hiểu nguyên nhân xung đột và ảnh hưởng của xung đột đối với cuộc sống của chúng ta.
- Học các kỹ năng thương thuyết và giải quyết xung đột.
- Học sinh nhận thấy sự cần thiết phải giải quyết những mâu thuẫn, xung đột một cách tích cực.
Thái độ:
- Học sinh bình tĩnh trước những mâu thuẫn và xung đột
- Học sinh thiện chí và suy nghĩ tích cực khi giải quyết mâu thuẫn
Về kỹ năng sống:
- Có kỹ năng giải quyết xung đột. Bên cạnh đó còn rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giao tiếp, thiện chí khi nhìn nhận vấn đề và đánh giá người khác, suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, thừa nhận ý kiến hợp lý của người khác, thương lượng.
2. Ý nghĩa
Trong cuộc sống chúng ta không thể tránh khỏi những mâu thuẫn với những người xung quanh. Việc phải đối mặt với những tình huống khó khăn hay thử thách là trải nghiệm thông thường của con người. Chúng ta cần biết giải quyết những mâu thuẫn này một cách hoà bình thông qua các kỹ năng kiểm soát cơn giận và kỹ năng thương lượng vì sự bình an của cả đôi bên. Chìa khoá để tìm hiểu về chính chúng ta và để tăng cường sự phát triển tình cảm cá nhân của chúng ta đó là khám phá cách chúng ta kiểm soát những khó khăn thử thách trong cuộc sống của chúng ta như thế nào.
3. Tài liệu và phương tiện
- Giấy A4 và A0
- Kéo, băng dính, bút
- Tài liệu phân phát
- Sơ đồ/ bảng viết chữ to về:
+ Các cách biểu lộ cảm xúc
+ Cách kiềm chế khi tức giận
+ Bí quyết biểu lộ sự cương quyết
+ Các bước của kỹ năng thương lượng
4. Hướng dẫn tổ chức hoạt động
Hoạt động 1: Tìm hiểu thực trạng xung đột và các nguyên nhân nảy sinh
a. Mục tiêu: Học sinh tự nhận thức được các mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống, nguyên nhân của nó và cách giải quyết theo thói quen.
b. Cách tiến hành: Làm việc theo nhóm tập trung
Hoạt động cá nhân:
? Những ai có tham gia vào việc xung đột đó?
? Những người có tham gia trong tình huống xung đột đó thể hiện những kiểu hành vi giao tiếp như thế nào?
? Anh/chị có còn nhớ điều gì đã khiến cho xung đột xảy ra không?
? Làm thế nào mà việc xung đột đó được giải quyết (hoặc chưa được giải quyết)?
Hoạt động theo đôi:
Các học viên chia sẻ ví dụ của mình về tình huống xung đột, cho phép có đủ thời gian để các học viên thảo luận với nhau. Tìm hiểu những kiểu hành vi chính đã được thấy và thảo luận tính hiệu quả trong việc làm gia tăng hoặc giải quyết vấn đề xung đột. Có điều gì mà các học viên muốn bây giờ học có thể làm khác đi?
Hoạt động nhóm lớn:
Khi đã hoàn thành các đôi trở về nhóm lớn và thảo luận những kết quả của mình về vấn đề xung đột, nó có tác dụng hay không, và nó có được giải quyết hay không.
Tóm tắt qua việc sử dụng nhũng ví dụ của cá nhân và thông tin từ phần kiến thức gợi ý.
c. Kết luận:
Những mâu thuẫn thường nảy sinh trong cuộc sống:
- Mâu thuẫn với bạn bè.
- Mâu thuẫn với người trong gia đình, họ hàng.
- Mâu thuẫn với những cá nhân khác trong cộng đồng.
- Và những mâu thuẫn khác.
Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn:
- Sự khác nhau về suy nghĩ và quan niệm.
- Sự khác nhau về mong muốn/ nhu cầu về lợi ích cá nhân.
- Không biết thừa nhận, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến, quan điểm của người khác.
- Tính cách gây hấn, hiếu chiến, thích người khác phải phục tùng, lệ thuộc vào mình.
- Sự kèn cựa, muốn hơn người.
- Sự định kiến, phân biệt đối xử.
- Sự bảo thủ, cố chấp.
- Nói không đúng về nhau.
- Và những nguyên nhân khác.
NHỮNG MỨC ĐỘ XUNG ĐỘt
“Xung đột thường xảy ra vì mọi người suy nghĩ, cảm nhận, phản ứng và nắm bắt những tình huống như nhau theo các khác nhau”.Hầu hết các tình huống xung đột là do việc trào dâng cảm xúc và những ý nghĩ khó chịu. Điều quan trọng là phải có đủ thời gian cho mỗi người nói ra “câu chuyện” của mình. Việc “kể chuyện” này có thể là thiên về tình cảm và cần có thời gian. Việc này là nhằm mục đích để cho bộc lộ được sự tổn thương, hoặc tức giận hoặc thất vọng. Nó cũng nhằm mục đích để cho người này thể hiện sự thông cảm và hiểu biết quan điểm hay kinh nghiệm của người kia.
Các cách giải quyết thường sử dụng:
- Nói chuyện với nhau để hiểu và thông cảm/ bỏ qua cho nhau.
- Cãi nhau, sau đó giận nhau không chào hỏi nhau.
- Đánh nhau, sau đó không thèm nhìn mặt nhau.
- Ngoài ra, còn những cách giải quyết khác.
Hoạt động 2: Giải quyết các mâu thuẫn
a. Mục tiêu:
Hình thành kỹ năng giải quyết các loại mâu thuẫn cho học sinh thông qua những tình huống giả định và nắm được các bước giải quyết mâu thuẫn có hiệu quả.
b. Cách tiến hành
- Người dạy treo lên tường và giới thiệu những sơ đồ/ bảng viết chữ to về:
+ Cách kiềm chế khi tức giận
+ Bí quyết biểu lộ sự cương quyết
+ Các bước của kỹ năng thương lượng
- Người dạy giao cho mỗi nhóm 1 tình huống và yêu cầu các thành viên trong từng nhóm vận dụng cách xử lý mẫu của Hùng trong hoạt động 2 và cách kiềm chế khi tức giận. Vận dụng các bước của kỹ năng thương lượng... để giải quyết mâu thuẫn trong tình huống của nhóm mình và thảo luận/ đóng vai cách giải quyết.
Tình huống 1:
Giờ ra chơi, một nhóm học sinh bước vào quán nước ở cổng trường, lúc đó bạn đang ngồi uống nước trong quán. Một học sinh trong nhóm này vô tình nhổ nước bọt vào chân bạn. Bạn quay lại yêu cầu người học sinh đó phải xin lỗi, tuy nhiên người đó đã khước từ, không chịu xin lỗi, lại còn cười bạn? Vậy bạn sẽ ứng xử như thế nào?
Tình huống 2:
Giờ ra chơi có một vài học sinh lớp khác đến trêu bạn hoặc phá quấy trò chơi mà bạn đang tham gia. Họ dùng những lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa để châm chọc.
Bạn sẽ giải quyết như thế nào?
Tình huống 3:
Bạn đang tham gia vào một trò chơi giữa các nhóm bạn cùng tuổi tại sân trường. Một thành viên của nhóm khác chạy xô vào bạn, cả 2 người cùng ngã. Mặc dù người kia sai, bạn vẫn đỡ người đó dậy, nói lời xin lỗi hoặc hỏi han rất lịch sự. Tuy nhiên, đáp lại thái độ rất lịch sự của bạn, người kia chửi tục, xúc phạm hoặc đe dọa bạn. Vậy bạn sẽ xử lý như thế nào?
- Kết quả xử lý tình huống của nhóm có thể được trình bày dưới 2 hình thức:
+ Viết ra giấy khổ lớn để trình bày
+ Sắm vai thể hiện cách giải quyết
- Nhóm lên trình diễn cách xử lý tình huống của mình
- Giáo viên trưng cầu ý kiến nhận xét/ bình luận (về sự hợp lý, hợp tình của từng cách xử lý) hoặc các học sinh nêu câu hỏi về kết quả thảo luận của từng nhóm.
- Trên cơ sở những ý kiến của học sinh, giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi cho cả lớp:
Chúng ta cần phải trải qua các bước nào khi giải quyết mâu thuẫn?
c) Kết luận:
Khi rơi vào mâu thuẫn trong quan hệ với người khác, chúng ta nên vận dụng các bước giải quyết mâu thuẫn như sau:
- Kiềm chế cảm xúc - sử dụng các kỹ năng thư giãn. Tự đưa mình ra khỏi tâm trạng/ tình huống đó
- Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn - Ai là người gây ra mâu thuẫn/ chịu trách nhiệm. Cần suy nghĩ tích cực, vì nó có tác động mạnh đến cảm xúc và hành vi tích cực. (Nếu cần tách khỏi người có mâu thuẫn với mình một thời gian để suy nghĩ và tìm cách giải quyết mâu thuẫn đó).
Hoạt động 3: Giải quyết xung đột
Mục tiêu: giúp người học trải nghiệm thực tế hơn về giải quyết xung đột
Cách tiến hành:
- Hỏi xem các học viên có thể đóng vai để minh hoạ các kỹ năng được sử dụng để giải quyết xung đột.
- Nhấn mạnh với các học viên rằng việc giao tiếp hay giải quyết thành công trong các tình huống xung đột cần có kiến thức thực hành tốt.
- Yêu cầu các học viên nhớ lại về các kiểu hành vi giao tiếp (thụ động, hung hăng, quyết đoán), các kỹ năng giao tiếp không lời để cuốn hút được người nghe, thấu cảm được quan điểm của người khác và để sử dụng mệnh đề “TÔI” (ví dụ “Tôi nghĩ rằng…” hoặc “Tôi muốn…”). Có những công cụ then chốt cho việc giao tiếp và giải quyết xung đột thành công.
- Các học viên chia ra thành các nhóm nhỏ 3 người. Mỗi học viên sẽ lần lượt đóng vai trong các tình huống xảy ra xung đột, và cũng lần lượt đóng là quan sát viên trong hoạt động.
- Các nhóm cũng có thể tự sáng tạo ra tình huống xung đột cho nhóm mình (dựa vào tình huống thật hoặc tưởng tưởng ra). Suy nghĩ về những điều có thể gây ra xung đột cho thanh thiếu niên. Ví dụ, vấn đề giữa bạn trai và bạn gái, vấn đề ăn trộm đồ, vấn đề tự do cá nhân và những quy tắc của bố mẹ.
- Khi hoàn thành, yêu cầu các học viên thể hiện một hoạt cảnh trước lớp.
- Hỏi xem các học viên có thêm bất cứ câu hỏi nào về những vấn đề và khó khăn trong việc giải quyết xung đột.
- Thử thiết kế qui trình giải quyết xung đột.
5. Kết luận:
Một số vấn đề cần lưu ý khi giải quyết xung đột:
- Tôi có muốn giải quyết xung đột không? Tôi có tự nguyện xử lý vấn đề không?
- Tôi đang cảm thấy thế nào? Tôi có quá tình cảm không? Tôi có cần bình tĩnh lại không? Tôi có nhiều điều sự thật hơn không?
- Tôi có thể nhìn thấy một bức tranh tổng thể chứ không phải chỉ có quan điểm của tôi không?
- Việc này có thể mang đến cơ hội gì không? Chú trọng vào những điểm tích cực chứ không phải điểm tiêu cực.
- Những người có liên quan có những nhu cầu và lo lắng gì? Viết những điều đó ra.
- Tôi muốn thay đổi cái gì? Cần rõ ràng. Tấn công vào vấn đề chứ không phải vào ai cả.
- Làm thế nào tôi có thể làm việc này một cách công minh? Thương lượng.
- Nó sẽ như thế nào nhỉ khi đi giày của người khác? Chứng tỏ là bạn hiểu.
- Những khả năng nào? Suy nghĩ càng nhiều giải pháp càng tốt. Chọn một giải pháp mà tốt cho mọi người nhiều hơn là họ muốn.
- Chúng ta cần có một người thứ 3 đứng giữa không? (người hoà giải). Liệu việc này có giúp chúng ta hiểu được nhau tốt hơn không, hoặc giúp chúng ta có được những giải pháp?
- Chúng ta có thể giải quyết việc này cùng nhau không? Đối xử với nhau công bằng.
- Làm thế nào để cả hai ta cùng thắng lợi? Hướng đến giải pháp mà tất cả những nhu cầu đều được tôn trọng.
MƯỜI BƯỚC ĐỂ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
1) Xác định vấn đề
Đồng ý vấn đề là gì.
2) Nêu ra thời gian và địa điểm
Khi nào sẽ thảo luận vấn đề này?
Thảo luận vấn đề này ở đâu?
Ai sẽ thảo luận vấn đề này? phải đảm bảo là chỉ có những người có liên quan.
3) Đề ra một khoảng thời gian giới hạn cho thảo luận
Nhiều khi sẽ tốt hơn nếu gặp lại vào thảo luận vào một dịp khác chứ không nên tiếp tục thảo luận mà không có hiệu quả.
4) Nói với chính mình
Không ai có thể nói thay cho người khác, hãy chỉ nói cho chính mình.
5) Chấp nhận những điều người khác nói
Bạn không phải đồng ý với nhau nhưng hãy tôn trọng những gì người khác nói. Không bao giờ giả định là bạn biết những điều người khác đang nghĩ. Phải kiểm nghiệm mới biết được.
6) Tập trung vào nội dung
Chỉ cố gắng giải quyết từng vấn đề một. Đồng ý hướng bên kia vào chủ đề một cách tôn trọng nhau nếu thấy cần thiết.
7) Tránh ngôn từ quá tình cảm
Cố gắng sử dụng ngôn ngữ trung hoà. Nhiều khi sẽ là tốt nếu bạn cắt nghĩa một số điều giống như khi bạn nói trước công chúng. Điều này giúp bạn không gây tổn thương cho tình cảm.
8) Có khả năng kết thúc
Đồng ý hẹn lại nếu mọi việc rơi vào quá tình cảm, hoặc nếu bạn thấy mệt hoặc buồn chán.
9) Thoả hiệp
Tìm kiếm cơ hội để thoả hiệp nhằm đạt được kết quả tốt nhất cho cả đôi bên.
10) Thử cái mới
Nếu điều gì đó không hiệu quả hãy ngừng lại và làm điều gì đó khác đi.
5. Tổng kết
Những thu hoạch về nhận thức qua chủ đề
Giải quyết xung đột có nghĩa là quá trình các bên cùng tham gia giải quyết những khúc mắc nhằm xác định lại nhu cầu của hai bên và tìm phương thức thoả mãn những nhu cầu ấy. Cơ sở của giải quyết xung đột là các cá nhân phải có ý nguyện muốn giải quyết những vấn đề của họ.
Trong những tình huống xung đột, cần phải thống nhất một số nguyên tắc về những gì cả đôi bên mong muốn trong thảo luận. Ví dụ, những nguyên tắc có thể là: không cắt ngang, không bỏ giữa chừng khi cuộc nói chuyện chưa kết thúc, không gọi bằng tên gọi coi thường. Cả hai bên có thể muốn mục đích của cuộc nói chuyện là để giải quyết xung đột hoặc để đạt đến thoả thuận về việc hiểu quan điểm của nhau tốt hơn.
Quá trình giải quyết xung đột bao gồm những bước quan trọng như sau:
- Các bên đồng ý gặp gỡ thảo luận và đưa ra những nguyên tắc làm việc.
- Thu thập thông tin về xung đột và những nhu cầu của các bên (Hỏi người có mâu thuẫn với mình có thời gian để ngồi nói chuyện về mâu thuẫn đó không; Hãy nói với người có mâu thuẫn với mình về cảm xúc của mình; Hãy nói với họ tại sao mình lại có cảm xúc như vậy; Hãy lắng nghe câu trả lời của người đó)
- Xác định chính xác nội dung của xung đột.
- Đưa ra những dự kiến về giải pháp.
- Chọn lấy một phương án tối ưu.
- Đạt được sự đồng ý của hai bên.
(Nếu mâu thuẫn không thể giải quyết được/ hoặc một trong 2 người trở nên quá giận dữ, thì hãy dừng cuộc thảo luận/ thương lượng và hẹn sẽ nói chuyện về vấn đề đó).
Những quá trình này muốn thực hiện được đòi hỏi một loạt các kỹ năng cơ bản của mỗi cá nhân như biết lắng nghe, gói gọn vấn đề, biết đồng cảm, tư duy sáng tạo, logic hiểu được những cách nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề v.v.
Khi xuất hiện tình huống mà ở đó việc xung đột thiên về tình cảm hoặc có vẻ như không thể giải quyết được, thì rất cần thiết phải có sự hỗ trợ của một “người hoà giải”. Vai trò của người hoà giải có tính trung lập, tức là không thiên về bên nào nhiều hơn. Người hoà giải nêu ra và duy trì những nguyên tắc và mục đích của việc nói chuyện giữa hai bên. Người hoà giải phải đảm bảo rằng cả hai bên đều có thời gian để trình bày như nhau, và người hoà giải phải tóm lược lại những ý chính được các bên nêu ra. Người hoà giải có thể hỗ trợ các bên tìm kiếm sự thoả hiệp hay kết quả tốt cho cả đôi bên. Một người hoà giải có thể là giáo viên, bố/mẹ, một người bạn không có liên quan đến tình huống, hay một đồng nghiệp. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra một số những phẩm chất và kỹ năng cần có của người làm trung gian hoà giải:
Những phẩm chất cần có là:
Biết chấp nhận người khác
Kiên nhẫn
Không phán xét
Chân thành, gần gũi
Nhạy cảm
Tự kiềm chế
Chu đáo và động lòng trắc ẩn
Những kỹ năng cần có:
Biết làm sáng rõ vấn đề
Biết cung cấp thông tin
Xác định được những trở ngại
Biết lắng nghe người khác
Thể hiện sự tin tưởng
Biết chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc
Biết hỗ trợ và tập trung vào vấn đề
Biết đồng cảm
Những kỹ năng sống đã vận dụng trong các hoạt động của chủ đề
- Vận dụng các kỹ năng sống như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giao tiếp, thiện chí khi nhìn nhận vấn đề và đánh giá người khác, suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, thừa nhận ý kiến hợp lý của người khác, thương lượng...
- Học sinh học được cách giải quyết các mâu thuẫn một cách hiệu quả, tránh xung đột và bạo lực.
E. KỸ NĂNG KIÊN ĐỊNH
1. Mục tiêu
Kiến thức
+ Học sinh hiểu được thế nào là kỹ năng kiên định và sự cần thiết của kỹ năng kiên định trong các tình huống của cuộc sống.
+ Học sinh biết cách làm thế nào để thể hiện sự kiên định trong những tình huống khó khăn khi ra quyết định.
Thái độ
+ Học sinh có thái độ tích cực trong quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng.
+ Học sinh có được thái độ kiên định trước các vấn đề trong cuộc sống, nhưng không bảo thủ, cứng nhắc.
Kỹ năng sống
+ Học sinh biết vận dụng kỹ năng kiên định và một số kỹ năng hỗ trợ trong các tình huống khác nhau để sống an toàn, lành mạnh và thay đổi hành vi của người khác.
+ Học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp, thương thuyết, thuyết phục
+ Học sinh rèn luyện kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo.
+ Học sinh rèn luyện kỹ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề.
2. Thông điệp/ý nghĩa
Trong cuộc sống có rất nhiều tình huống chứa đựng những rủi ro hoặc cám dỗ, chúng ta cần kiên định với những suy nghĩ, những giá trị, những quyết định mà chúng ta coi là đúng đắn để tự bảo vệ mình, hoặc để thực hiện được những mục tiêu trong cuộc sống của mình.
Tuy nhiên kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, cứng nhắc. Kiên định là luôn biết dung hoà giữa nhu cầu và quyền của mình với nhu cầu và quyền của người khác. Chính vì vậy, kiên định còn thể hiện việc ta biết thay đổi nếu nhận thấy suy nghĩ và hành vi của ta chưa đúng với chuẩn mực đạo đức xã hội.
3. Tài liệu và phương tiện
Giấy A4 và A0
Kéo, băng dính, bút
Tài liệu phân phát:
- Câu chuyện 5 người bạn
- Các tình huống đòi hỏi thể hiện kỹ năng kiên định
- Sơ đồ các bước của kỹ năng kiên định
4. Hướng dẫn tổ chức hoạt động
Hoạt động 1: Kiên định trước sự rủ rê, cám dỗ
a. Mục tiêu:
Học sinh hiểu được rằng sự rủ rê và cám dỗ luôn rập rình chúng và chúng cần biết cách ứng phó. Học sinh hiểu được đặc điểm của các kiểu quan hệ/ giao lưu cơ bản trong cuộc sống và thấy sự cần thiết và tính ưu trội của kiểu quan hệ dung hoà, kiên định. Đồng thời học sinh biết cách ứng đáp với những cá nhân có hành vi không chuẩn mực và có thể thay đổi hành vi ấy.
b. Cách tiến hành:
Làm việc theo nhóm: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến 7 người. Các nhóm cùng thực hiện các nhiệm vụ sau:
Đọc truyện "Câu chuyện về 5 người bạn" và trả lời các câu hỏi sau:
+ Đặc điểm trong quan hệ/ giao tiếp/ hành vi của 5 cậu bạn trong câu chuyện trên có gì khác nhau? Phân tích diễn biến tâm lý của các nhân vật.
+ Cách ứng xử của Trung và Tuấn có gì khác nhau?
+ Cách đồng tình của Linh và Minh có gì khác nhau?
- Kết quả thảo luận nhóm được ghi vào giấy A0
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm mình
- Yêu cầu mọi người tham gia bổ sung, hoặc đặt câu hỏi cho từng nhóm
- Cuối cùng GV tổng hợp ý kiến của các nhóm và bổ sung
c. Kết luận:
Hưng là người hiếu thắng/ áp đặt: đó là phong cách của một số người chỉ đứng từ phía quyền lợi của mình mà không nghĩ đến người khác.
Linh là người dễ bị kích động, thiếu suy sét, nông cạn: thường hành động theo số đông, trước áp lực của số đông càng dễ bị kích động.
Minh là người dễ bị lệ thuộc/ thụ động: hành động không phải vì quyền lợi của mình mà luôn vị nể người khác, làm theo điều người khác muốn.
Trung là người có phong cách kiên quyết nhưng cứng nhắc: là người nghĩ cho sự an toàn trước mắt của bản thân là trên hết.
Tuấn có phong cách giao tiếp/ quan hệ Dung hoà/ Kiên định: Đó là những người vừa bảo vệ quyền của mình nhưng không xem thường quyền của người khác và mong muốn người khác thay đổi theo hướng tích cực.
2. Minh, Trung và Tuấn đều nhận thức được tình huống và cảm xúc xuất hiện ở hai bạn là tương đồng: đều thấy nếu đi theo Hưng đánh nhau thì tình hình sẽ nghiêm trọng hơn, nên 3 bạn đều không muốn tham gia.
3. Trung và Tuấn kiên quyết không tham gia đánh nhau, còn Minh thì nể và sợ nên nghe theo. Linh thì thực sự “đồng cảm” với Hưng và làm theo ngay.
Hoạt động 2: Hình thành và phát triển kỹ năng kiên định
a) Mục tiêu
Học sinh hiểu được kỹ năng kiên định nên được thể hiện như thế nào và các bước hình thành kỹ năng kiên định.
b) Cách tiến hành:
- Yêu cầu cả lớp Phân tích cách ứng xử/ hành vi của các nhân vật
- Ghi nhận những ý kiến của học sinh, tận dụng những ý kiến phù hợp để phân tích.
Các bước mà Tuấn đã trải qua khi trao đổi với Hưng:
- Tuấn bình tĩnh lắng nghe để chia sẻ với bạn
- Giải thích rằng mình cảm thấy buồn (thứ cảm giác / cảm nhận từ trái tim)
- Tuấn phân tích, so sánh cái hại của cách giải quyết mà Hưng đưa ra, Tuấn còn đưa ra cách giải quyết thay thế có lợi hơn (suy nghĩ được thực hiện bằng khối óc/ lý trí)
+ Sau khi đã nói với Hưng bằng cả tình và lý mà Hưng vẫn không chịu từ bỏ ý muốn rủ bạn bè đi đánh nhau, Tuấn đã buộc lòng phải nói ”Không” với Hưng.
Cách ứng xử của Tuấn trong câu chuyện chính là thể hiện sự kiên quyết/ kỹ năng kiên định. GV đặt tiếp câu hỏi cho cả lớp:
- Kỹ năng kiên định là gì?
- Kiên định khác gì với hiếu thắng? với bảo thủ?
c) Kết luận:
Sự kiên quyết/ kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì mình muốn/ hay không muốn và tại sao lại muốn/ hay không muốn và có khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn/ không muốn trong những hoàn cảnh cụ thể và luôn dung hoà được giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác, biết lắng nghe và đánh giá những điều người khác cảm nhận và mong muốn.
Kiên định không phải là hiếu thắng, bảo thủ và cứng nhắc. Người hiếu thắng do quá hung hăng, nên kiên quyết giành giật những điều họ muốn mà không xem xét đến hoàn cảnh hoặc những người mà họ đang quan hệ.
Các bước hình thành kỹ năng kiên định:
1. Nhận thức được tình huống, vấn đề.
2. Bình tĩnh xem xét sự xuất hiện cảm xúc của bản thân tại thời điểm đó và có những điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu.
3. Phân tích có phê phán suy nghĩ và hành vi của đối tượng để quyết định phương thức ứng đáp phù hợp.
4. Khẳng định được mình muốn gì.
5. Thực hiện hành động:
Dùng tình cảm để khuyên đối tượng.
Không được, dùng lý để giải thích.
6. Vẫn không được, kiên quyết từ chối một cách chân thành.
2. Bình tĩnh xem xét sự xuất hiện cảm xúc của bản thân tại thời điểm đó và có những điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu.
3. Phân tích có phê phán suy nghĩ và hành vi của đối tượng để quyết định phương thức ứng đáp phù hợp.
4. Khẳng định được mình muốn gì.
5. Thực hiện hành động:
Dùng tình cảm để khuyên đối tượng.
Không được, dùng lý để giải thích.
6. Vẫn không được, kiên quyết từ chối một cách chân thành.
Hoạt động 3: Vận dụng kỹ năng kiên định giải quyết các tình huống
a. Mục tiêu: HS vận dụng kỹ năng kiên định để giải quyết các tình huống giả định trong cuộc sống, qua đó nắm và sử dụng được kỹ năng kiên định.
b. Cách tiến hành
Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm chịu trách nhiệm giải quyết 1 trong 4 tình huống sau:
Kiên định trước sự lôi kéo của bạn thân
|
Kiên định trước sự rủi ro
|
Kiên định trước cám dỗ (văn hoá phẩm độc hại)
|
Kiên định trước sự thuyết phục quan hệ luyến ái
|
- Yêu cầu các nhóm trình bày cách xử lý tình huống của mình dưới hình thức sắm vai/ hoặc trình bày ra giấy A0.
- Lớp tham gia bổ sung, hoặc đặt câu hỏi cho từng nhóm.
- GV tổng hợp ý kiến của các nhóm.
c. Kết luận:
Trong trường hợp nhận thấy những nguy cơ rủi ro hay cám dỗ, hoặc sức ép, chúng ta đều cần kiên quyết nói “Không” bằng cách thuyết phục, thương lượng...
Tổng kết
Người học trả lời:
- Những thông điệp nào được rút ra từ chủ đề này?
- Những kỹ năng sống nào được sử dụng trong chủ đề này?
GV chốt lại:
Những điều cần ghi nhớ trong chủ đề này:
- Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận biết được những gì mình muốn/ hay không muốn, tại sao lại muốn/ hay không muốn và khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể và luôn dung hoà được giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác.
- Kỹ năng kiên định thể hiện sự tự tin, bản lĩnh vững vàng của con người trước mọi sự cám dỗ, mọi sức ép...
- Kiên định không phải là bảo thủ, cứng nhắc.
Những kỹ năng sống được sử dụng trong chủ đề này
- Kỹ năng giao tiếp khi thảo luận nhóm.
- Kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo khi phân tích các tình huống.
- Kỹ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề khi giải quyết các tình huống.
- Kỹ năng kiên định khi lựa chọn cách giải quyết các tình huống.
Để có kỹ năng kiên định cần có một tập hợp những kỹ năng sau: Giao tiếp, Thương lượng, Tự nhận thức, Tư duy phê phán, Xác định giá trị, Ra quyết định.
2. KỸ NĂNG KIÊN ĐỊNH (chưa ghép vào nội dung trên)
Kỹ năng kiên định là gì?
Kỹ năng kiên định là khả năng thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của bản than để bảo vệ quyền của mình, giá trị của mình, quyết định của mình nhưng không làm tổn thương đến cảm xúc và quyền của người khác.
Những khái niệm cần phân biệt
- Kiên định không phải là bảo thủ: Kiên định là khi bạn thấy ý kiến của mình là đúng và bạn kiên quyết bảo vệ nó, nhưng không phê phán ý kiến của người khác. Bảo thủ là khi bạn nhận ra mình sai, nhưng không thừa nhận, mà vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến ấy.
- Kiên định không phải là thô bạo: Bạn kiên định không có nghĩa là phải hùng hổ đe nẹt người khác, bắt người khác nghe theo ý kiến của mình. Nếu người ta không chấp nhận thì bạn lại tỏ ra tức giận, hoặc phá ngang.
- Kiên định trái hẳn với thụ động, trông chờ: Người kiên định bao giờ cũng có suy nghĩ chín chắn, có chủ kiến, không ỉ lại, trông chờ, hay a dua theo số đông.
- Ý thức về quyền của mình.
- Biết cách thể hiện quyền của mình, bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình, có quyền bảo vệ cho ý kiến của mình, chấp nhận mọi hậu quả xảy ra.
- Biết rằng bạn có quyền thay đổi suy nghĩ của mình.
- Biết rằng bạn có quyền thuyết phục người khác, nhưng không có quyền áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác.
- Biết rằng bạn có quyền mắc sai lầm (vì ai cũng có lúc mắc sai lầm) và có quyền chịu trách nhiệm về những sai lầm ấy.
- Biết rằng bạn có quyền suy nghĩ và quyết định độc lập.
- Biết rằng bạn có quyền nói “tôi không biết”, “tôi không hiểu”, “tôi không quan tâm vấn đề này”.
+ Tập nói thẳng: Điều này làm cho lời nói của bạn đơn giản và chân thật. Đừng nghĩ những nhu cầu của mình là tội lỗi. Tuy nhiên nói thẳng nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc của văn hoá giao tiếp.
+ Hãy dùng đại từ “tôi”: Bạn nên làm chủ lời nói của mình. Thay vì nói “Có lẽ tôi cần sự giúp đỡ” hãy nói “Tôi mong bạn giúp tôi”. Thay vì nói “Ở đây khó chịu quá” hãy nói “Tôi không cảm thấy không thích ở đây lắm”.
+ Hãy kiên nhẫn truyền đạt thông tin mà bạn mong muốn: Nếu điều bạn nói không được chú ý đến, hãy nói lại và đừng tỏ ra giận dữ. Hãy phát biểu như ban đầu cho đến khi được đón nhận.
+ Hãy tỏ ra thấu hiểu người khác trước khi bạn nói về ý kiến của mình: Hãy để người khác biết bạn đang lắng nghe và cảm thông họ, ví dụ: “Tôi hiểu rằng bạn muốn đi sớm hơn, nhưng chúng ta sẽ phải chờ đến tháng sau”.
+ Hãy sử dụng hiệu quả ngôn ngữ cơ thể: Luôn để ý đến điệu bộ của cơ thể. Hãy luôn đứng thẳng, vững vàng và nhìn vào mắt người đối diện.
Bài tập thực hành:
Hãy thể hiện là một người kiên định trong các trường hợp sau:
- Bạn đang bận rộn với công việc học tập của mình, một người bạn gọi điện thoại kể lể rằng cô ấy buồn chán, rỗi rãi, chẳng có việc gì làm, muốn “buôn dưa lê” cho đỡ buồn.
- Nhóm bạn của bạn đang tranh luận về quan điểm cuộc sống, đa số các bạn của bạn cho rằng giá trị hiện đại đang làm lu mờ những giá trị truyền thống dân tộc. Bạn không nghĩ như vậy. Vậy bạn sẽ phản ứng như thế nào? Hoặc ngược lại, bạn cho rằng giá trị hiện đại đang làm lu mờ những giá trị truyền thống dân tộc, và sau khi nghe các bạn phản biện, bạn thấy mình chưa đúng. Vậy bạn phản ứng như thế nào để thể hiện sự thay đổi của mình?
Câu chuyện 5 người bạn
Minh, Trung, Hưng, Linh và Tuấn là năm người bạn cùng lớn lên ở một làng quê và cùng học ở một trường. Họ cũng khá thân thiết với nhau và thường hay đi chơi với nhau và cùng tham gia đội đá bóng. Trong một lần đá bóng, Hưng có lời qua tiến lại với đội bóng làng bên. Về nhà Hưng vẫn còn ấm ức và tối hôm ấy Hưng đến nhà Linh nói về cảm xúc của mình và rủ Linh cùng đi sang làng bên cạnh để giúp “trả đũa” hội con trai trong đội bóng làng bên.
Khi Linh nghe Hưng kể và đề nghị như vậy, Linh cũng thấy tức khí thay và đồng tình cùng đi “trả đũa”. Để lực lượng hùng hậu hơn, Hưng và Linh đến rủ Minh. Sau khi nghe Hưng nói, Minh cảm thấy hơi choáng và giải thích rằng cậu không muốn đi. Hưng nổi cáu và quát: “nếu cậu không đi cùng thì tình bạn giữa chúng ta sẽ chấm hết”. Minh vừa sợ mất một người bạn, vừa sợ bị hận thù, vừa sợ đánh nhau, song cuối cùng Minh vẫn đồng ý đi.
Sau đó ba người lại đến nhà Trung rủ cậu đi cùng để có đội ngũ hùng mạnh hơn nữa. Khi Hưng yêu cầu Trung cùng đi thì Trung trả lời cương quyết: các cậu đi mà giải quyết, tôi không tham gia vụ này được và quay vào nhà. Hưng tức quá và hét to: mày nhớ đấy, đừng trách chúng tao. Và cả nhóm kéo đến nhà Tuấn. Khi nghe Hưng trình bày và sự thêm nếm của các bạn kia, Tuấn đã lắng nghe một cách kiên nhẫn câu chuyện và cảm xúc của họ. Tuấn đặt ra những câu hỏi về sự việc và nói rằng: liệu chúng ta có cách nào giải quyết tốt hơn không. Và Tuấn nói tiếp: đánh nhau chỉ làm cho tình thế trở nên tồi tệ hơn; sao không gặp để nói chuyện với nhau và cùng nhau giải quyết vấn đề? Tôi cảm thấy thực sự buồn nếu sự việc xảy ra như thế. Sau đó Tuấn còn hỏi Hưng vì sao cậu ta lại suy nghĩ và đề nghị một việc như vậy? Tuấn nói tiếp: tôi đề nghị phương án “gặp nhau nói chuyện”, nếu các cậu không nghe thì tôi không thể theo các cậu được. Nghĩ một lúc, nhưng nhóm 4 bạn vẫn không thay đổi ý định đi đánh nhau với con trai làng bên.
Tuấn đành lòng phải nói với Hưng rằng: Rất tiếc, dù không muốn làm mếch lòng cậu, nhưng mình buộc lòng phải từ chối lời đề nghị của cậu.