| Mô hình VNEN hướng tới mục tiêu hài hòa giữa việc dạy chữ và dạy làm người. Ảnh: HỒNG PHÚC Mô hình tiên tiến So với mô hình truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức có tính áp đặt, mô hình VNEN khắc phục được nhược điểm này, đảm bảo sự hài hòa giữa dạy chữ và dạy làm người. Có thể thấy sự khác biệt trên nhiều phương diện. Thứ nhất, tài liệu dạy và học trong mô hình VNEN không phải sách giáo khoa mà là tài liệu “hướng dẫn học” dùng chung cho giáo viên, học sinh và phụ huynh. Thứ hai, mô hình VNEN lấy “hoạt động học” làm trung tâm, giáo viên không giảng giải, không truyền thụ kiến thức một chiều cho cả lớp nghe, mà tập trung theo dõi, hướng dẫn học sinh tự học và hỗ trợ kịp thời từng nhóm học sinh khi gặp khó khăn. Thứ ba, tổ chức lớp học thay đổi căn bản, các em ngồi học theo nhóm, có nhóm trưởng luân phiên điều hành. Bên cạnh đó, mô hình này chú trọng hoạt động tự giáo dục của học sinh, bao gồm tự quản, tự học, tự đánh giá.
Tuy nhiên, mô hình còn bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng như: Tài liệu hướng dẫn cho học sinh, giáo viên còn thiếu, các em chưa được mang tài liệu về nhà. Do đó, phụ huynh cũng chưa nắm rõ được con em mình đang học tài liệu nào. Cả giáo viên, phụ huynh và học sinh còn tâm lý đánh giá học sinh bằng điểm số. Một số học sinh còn tâm lý phụ thuộc vào bạn trong nhóm, chưa phát huy khả năng của mình. Theo ông Phạm Ngọc Định, Vụ trưởng Vụ giáo dục Tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế, song mô hình trường học mới này có những ưu điểm riêng và bắt đầu nhận được sự hưởng ứng từ học sinh cũng như phụ huynh học sinh. Trong thời gian tới, mô hình VNEN sẽ ngày càng được nhân rộng để các em học sinh, phụ huynh và các thầy cô giáo được cùng nhau tham gia vào quá trình dạy - học, đảm bảo theo mong muốn của xã hội về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay”. Không hiệu quả nếu sai đối tượng Về mặt lý thuyết, không ai có thể phủ nhận được những ưu điểm vượt trội của mô hình này. Có những lớp học đã đi đúng mục tiêu giáo dục của mô hình. Nhiều phụ huynh tỏ ra khá hài lòng với kết quả của con em mình khi theo học mô hình VNEN. Chưa bàn đến kết quả học tập, điểm khác biệt đầu tiên chính là hầu hết học sinh thể hiện sự mạnh dạn, tự tin và chủ động tham gia các hoạt động giáo dục. Tình trạng dạy học áp đặt một chiều của giáo viên và lối học thụ động của học sinh được khắc phục đáng kể. Cách thức tổ chức lớp học theo các nhóm đã tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, khám phá, tự lĩnh hội kiến thức. Mối quan hệ, tương tác giữa học sinh với giáo viên, và quan hệ giữa học sinh với nhau được tăng cường. Tuy vậy, bên cạnh những lớp học đã đi được đúng mục tiêu, định hướng của VNEN, vẫn còn khá nhiều ý kiến trái chiều. Trước tiên là việc bố trí, sắp xếp lớp học. Rất nhiều trường tiểu học ở Hà Nội muốn thực hiện thí điểm mô hình này nhưng điều kiện không cho phép bởi sĩ số các lớp quá đông. Trong khi đó, điều kiện tiên quyết của mô hình VNEN là sĩ số lớp không quá 30 em học sinh để có thể dễ dàng chia nhóm học. Với những thành phố lớn như Hà Nội, khó có thể áp dụng ngay bởi việc chia lại lớp, mở thêm lớp sẽ gây áp lực lên đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất. Đội ngũ giáo viên cũng đóng vai trò quyết định sự thành - bại của mô hình này. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia giáo dục, mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế bởi giáo viên giảng dạy và tổ chức lớp học theo khuôn mẫu, tài liệu dạy học cũng được hướng dẫn tỉ mỉ, giáo viên cứ thế mà làm theo. Phương pháp này tuy tránh quá tải nhưng không phát huy khả năng sáng tạo của giáo viên. Giáo viên rập khuôn từ việc ghi bảng, trình bày đến tổ chức các hoạt động trong lớp. Như thế là không ổn. Vấn đề mấu chốt của mô hình chính là các em học sinh. Đến năm thứ 3 thí điểm, ngoài lớp 2 và 3, mô hình này đã được áp dụng với cả học sinh lớp 1. Theo một phụ huynh có con học lớp 1 mô hình này, việc thí điểm với lớp 1 là không cần thiết bởi nhu cầu của các em mới dừng lại ở việc nhận biết mặt chữ, đánh vần, tập đọc tập viết. Mà những việc này rất cần giáo viên hướng dẫn trực tiếp, “cầm tay chỉ lối”. Mặt khác học sinh lớp 1 đa phần có tư duy khá non nớt, lại là lần đầu tiếp xúc với việc học hành nghiêm túc nên việc truyền thụ kiến thức, thảo luận với nhau sẽ không hiệu quả nhiều như các em lớp lớn hơn. Ngoài ra, theo nhiều giáo viên, không phải em học sinh nào cũng phù hợp để tham gia mô hình này. Với những em có lực học không tốt, tiếp thu chậm thì việc để các em “tự bơi” mà thiếu vai trò chủ chốt của giáo viên sẽ khiến kết quả học tập của các em ngày càng đi xuống. Thực tế đã cho thấy, khá nhiều học sinh đã tự nguyện xin ra khỏi lớp VNEN hoặc giáo viên đề nghị chuyển bởi kết quả học tập không được như mong đợi. VNEN là mô hình hay với cách thức học và dạy tiên tiến. Nhưng để có thể phát huy được hết những ưu điểm của nó, không chỉ cần đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy – học mà còn cần phải chọn được đúng đối tượng học sinh, cấp học phù hợp và một đội ngũ giáo viên tâm huyết, giàu năng lực. Có như vậy, VNEN mới có thể trở thành mô hình trường học tương lai ở nước ta sau giai đoạn thí điểm.
|
Nguồn tin: Bao mới.com
Đang truy cập :
31
Hôm nay :
495
Tháng hiện tại
: 1710
Tổng lượt truy cập : 3790513